Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Thánh TĐVN Đaminh Nguyễn Trọng Khảm và các thánh làng Quần Cống - 13/01

3 thánh trong một gia đình, người làng Quần cống, Bùi chu:
1- Đaminh Nguyễn Trọng Khảm, quan án
2- Giuse Phạm Trọng Tả, cai tổng
3- Luca Phạm Trọng Thìn, cai tổng

Ba vị thánh này sống dưới chế độ phong kiến. Gia tộc cụ Đa Minh Phạm Trọng Khảm giàu có nổi bật trong làng Quần Cống, Nam Ðịnh; Cụ Khảm được triều đình cho làm Chánh Án; con trai cụ Khảm là Luca Phạm Viết Thìn (còn gọi là Luca Phạm Trọng Thìn) giữ chức Cai Tổng; người em con của chú là Đa Minh Phạm Trọng Tả cũng là cựu Cai Tổng. Tuy họ thuộc giai cấp trên, giữ những chức vụ quan trọng dưới chế độ phong kiến, nhưng cả ba thành viên trong gia tộc này đều hết lòng bác ái yêu thương dân làng nghèo khổ. Ba vị thánh này đều là Hội Viên Dòng Ba Đa Minh.

THÁNH ÐA MINH PHẠM TRỌNG KHẢM
Quan án, tử đạo (1780-1859)
Tiểu sử
Cậu Ða Minh Phạm Trọng Khảm sinh khoảng năm 1780 trong một gia đình khá giả tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh (nay thuộc tỉnh Bùi Chu). Thân phụ là ông Phạm Tri Khiêm, một hương chức danh giá được dân làng kính trọng. Hấp thụ được những đức tính tốt của cha, cậu Khảm nổi tiếng là người con có hiếu. Năm 18 tuổi, vâng lời song thân, cậu kết hôn với cô An-nê Phượng, một thiếu nữ đạo hạnh trong làng. Hai vợ chồng sống rất hoà thuận, được dân làng mến phục tin tưởng. Ðặc biệt hai người biết hiệp lực giáo dục và khích lệ con cái học hành.
Khi bị bắt, cụ án Khảm đã gần 80 tuổi, vừa là tiên chỉ trong làng, vừa là hội viên Huynh đoàn giáo dân Ða Minh, kiêm chức trùm họ trong giáo xứ. Mọi người đều công nhận cụ là người đạo đức, giàu lòng bác ái và nhiệt thành trong trách vụ. Các thừa sai, cả các giám mục cũng biết tiếng và từng đến trọ nhà cụ trong những ngày khó khăn.
Năm 1858, khởi đầu giai đoạn thứ năm trong cuộc bắt đạo gay gắt nhất trong lịch sử Giáo hội Việt Nam. Quan án sát Nam Ðịnh được mật báo là Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng, liền huy động quân lính đến bắt. Cụ án Khảm hay tin liền đưa các vị thừa sai trốn khỏi làng. Cụ tập hợp quần chúng, khích lệ họ can đảm giữ đạo. Khi quan quân ùa vào làng, bắt toàn dân tụ họp, tra xét thì cụ án Khảm công khai tuyên xưng đạo, quan sai bắt trói án Khảm giải về Nam Ðịnh. Trong suốt thời gian tù, cụ là chỗ dựa, là nguồn khích lệ, là người an ủi và chia sẻ tinh thần, vật chất cho các bạn tù.
Sau gần năm tháng bị cầm tù và nhiều lần bị hành hạ, ngày 13-1-1859, cụ án Khảm được đưa ra pháp trường Bảy Mẫu Nam Ðịnh. Khi ra đến nơi, quân lính xô cụ té, trói tay chân cụ vào cột đã chôn sẵn, rồi hai người lính cầm hai đầu dây thừng tròng qua cổ kéo thật mạnh cho đến khi cụ tắt thở. Thi hài cụ được các tín hữu Quần Cống rước về quê và an táng trọng thể.
Ngày 29-4-1951, đức giáo hoàng Pi-ô XII đã suy tôn cụ Ða Minh Phạm Trọng Khảm lên bậc chân phước. Và ngày 19-6-1988, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II tôn phong cụ lên bậc hiển thánh.
Lời nguyện: Lạy chúa, Chúa đã tưới gội quê hương Việt Nam chúng con bằng máu của thánh Ða Minh Khảm. Nhờ sự chuyển cầu của người, xin cho hạt giống đức tin và sự nhận biết Chúa Ki-tô luôn được triển nở mạnh mẽ trên quê hương chúng con. Chúng con cầu xin

THÁNH GIU-SE PHẠM TRỌNG TẢ
Cựu chánh tổng, tử đạo (1800-1859)
Tiểu sử
Cậu Giu-se Phạm Trọng Tả sinh khoảng năm 1800 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh. Ông Cai Tả là anh em chú bác với thánh án Khảm, là con ông Ða Minh Phạm Thăng. Khi bị bắt ông đã 60 tuổi. Ông là một ki-tô hữu đạo đức, một thành viên Huynh đoàn giáo dân Ða Minh, và là cựu chánh tổng. Cộng tác với cháu là Cai Thìn, ông luôn tìm cách giúp mọi người trong hoàn cảnh khó khăn.
Năm 1858, tình hình bắt đạo đang gia tăng, vua Tự Ðức ra lệnh cho quan quân triệt để thi hành sắc chỉ nhắm vào đạo Gia-tô. Nhưng thực tế, việc thi hành này phụ thuộc vào sự sốt sắng các quan địa phương. Lợi dụng điều đó, đức cha Xam-pê-rô Xuyên ủy thác cho cai Tả và cai Thìn trọng trách sứ giả hoà bình, vì hai vị thuộc thành phần lãnh đạo, dễ dàng tiếp xúc với cấp trên.
Các ông đã đến gặp trực tiếp tổng đốc Nam Ðịnh xin nương tay cho các tín hữu và hứa kêu gọi dân trung thành với vua. Cuộc thương thuyết sắp thành công, thì có một số người ở Cao Xá, vì bất mãn với chính sách nhà vua, đã nổi loạn chống lại các quan địa phương. Thế là vị tổng đốc đổi ý, tiếp tục ra lệnh lùng bắt các vị thừa sai và các tín hữu. Quan kết án cai Tả lừa dối và tìm dịp để bắt ông. Khi quan án sát Nam Ðịnh được mật báo là Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng, liền huy động quân đến vây bắt, nhưng các vị thừa sai đã được đưa đi chốn khỏi làng. Khi quan quân vào làng bắt toàn dân tụ họp để tra xét, quan đã sai bắt trói cai Tả và một số người giải về Nam Ðịnh, vì không chịu bỏ đạo.
Ba lần ra trước tòa, cả ba lần ông cai Tả đều cương quyết không bước qua thập giá dù bị dọa nạt, đánh đập. Không những thế, ông còn khuyên bảo những người đừng phạm thứ tội mà ông gọi là "ghê tởm".
Sau những tháng bị giam cầm, đánh đập, một hôm quan án cho biết là ông bị kết án xử tử. Vào ngày 13-1-1859, cai Tả và một số giáo hữu khác được đưa ra pháp trường Bảy Mẫu Nam Ðịnh. Tại đây, quân lính đã xử giảo ông. Sau đó, thi hài ông được các tín hữu đưa về Quần Cống an táng.
Ngày 29-4-1951, đức giáo hoàng Pi-ô XII suy tôn ông Giu-se Phạm Trọng Tả lên bậc chân phước và ngày 19-6-1988, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II long trọng phong ông lên bậc hiển thánh.
Lời nguyện: Lạy chúa, Chúa đã tưới gội quê hương Việt Nam chúng con bằng máu của thánh Giuse Tả. Nhờ sự chuyển cầu của người, xin cho hạt giống đức tin và sự nhận biết Chúa Ki-tô luôn được triển nở mạnh mẽ trên quê hương chúng con. Chúng con cầu xin.

THÁNH LU-CA PHẠM TRỌNG THÌN
Chánh tổng, tử đạo (1820-1859)
Tiểu sử
Cậu Lu-ca Phạm Trọng Thìn là con trai cụ Án Khảm sinh năm 1820 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh. Như chúng ta đã biết về cụ án Khảm, dưới mái nhà gia giáo và khá giả này, cậu Thìn đã lớn lên trong bầu khí đạo đức, được ăn học thành người. Nhờ trí thông minh lanh lợi và chăm chỉ, chẳng bao lâu cậu đã "công thành danh toại." Khi bị bắt, ông Cai Thìn mới khoảng 40 tuổi và đang là chánh tổng vừa quyền thế, vừa uy tín.
Thực ra, khi mới lên chức vụ này, vì giao tiếp với quan lại nhiều, đã có thời kỳ ông có vợ nhỏ là cô Trung, người Trà Lũ nên thờ ơ việc đạo nghĩa (vợ chính ông là bà Ma-ri-a Tâm). Nhưng sau nhờ lời khuyên của thân phụ, nhất là của cha giải tội, ông đã thành tâm sám hối. Từ đó, ông trở thành một mẫu gương thánh thiện, một gia trưởng và một thành viên Huynh đoàn giáo dân Ða Minh đạo đức, một thủ lãnh đáng tin cậy. Năm 1858, khởi đầu cho giai đoạn bắt đạo gay gắt nhất của lịch sự Giáo hội Việt Nam. Trong cuộc truy lùng các thừa sai của làng Quần Cống, ông cai Thìn đã bị bắt trong cùng hoàn cảnh với cha ông là cụ án Khảm.
Ba lần ra trước tòa, cả ba lần ông đều cương quyết không bước qua thập giá, dù bị đánh đập. Khi quan yêu cầu ông viết những suy nghĩ của mình lên giấy, ông đã viết bản tuyên xưng đức tin rõ ràng như sau:
"Tôi là ki-tô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi, dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết điều này. Lu-ca Thìn."
Gần năm tháng bị giam cầm, được quan báo cho biết là ông sẽ bị kết án xử giảo vì tội chống lại nhà vua. Ông Thìn kịch liệt phản đối, và cuối cùng ông được an tâm khi bản án được ghi thêm "bất khẳng quá khoá" nghĩa là không chịu bước qua thánh giá.
Ngày 13-1-1859, cai Thìn đã được đưa ra pháp trường cùng với một số tín hữu khác trong đó có cha và chú của ông. Sau khi đã trói ông vào cột, hai người lính cầm dây thừng tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi ông tắt thở. Các tín hữu làng Quần Cống đã đưa thi hài vị chứng nhân về quê để tổ chức an táng.
Ðức giáo hoàng Pi-ô XII đã suy tôn ông Lu-ca Phạm Trọng Thìn lên bậc chân phước ngày 29-4-1951. Ðức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II tôn phong ông lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.
Lời nguyện: Lạy chúa, Chúa đã tưới gội quê hương Việt Nam chúng con bằng máu của thánh Lu-ca Thìn. Nhờ sự chuyển cầu của người, xin cho hạt giống đức tin và sự nhận biết Chúa Ki-tô luôn được triển nở mạnh mẽ trên quê hương chúng con. Chúng con cầu xin
* *
*
Năm 1858 khởi đầu cho giai đoạn 5 cuộc bách hại đạo gay gắt nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Nhà vua treo giải thưởng xứng đáng cho những ai tố cáo nơi trú ẩn của các vị thừa sai Âu Châu và ngược lại sẽ trừng trị đích đáng những kẻ chứa chấp họ. Thế là các Ngài phải nay đây mai đó, trốn từ làng này qua làng khác. Quần Cống là một nơi ẩn náu khá an toàn, vì các chức sắc trong làng là ngừơi Công Giáo, và chính họ sẵn sàng đón tiếp các Ngài. Đức cha Sampedro xuyên, đại diện tổng tòa giáo phận Trung dự đoán có thể bị bắt bất ngờ, đã thủ phong giám mục phó cho Đức cha Valentino Vinh ngày 14-06 tại ninh Cường, hai cha Riano Hòa và Carrerras Hiển là phụ phong. Sau đó cả bốn vị đều ẩn tại làng Quần Cống, trọ tại nhà cụ An Khảm, Cai Tả và Nhiêu Côn.
Quan An sát Nam Định được mật báo làng Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng, liền huy động quân lính đến vây bắt. Nhưng cụ An Khảm kịp biết tin, vội vàng tìm cách đưa các vị thừa sai trốn khỏi làng. Đức cha Vinh và hai Linh mục qua làng Trà Lũ. Đức cha Xuyên đi qua Kiên Lao (ngày 08-07 mới bị bắt). Sau khi các thừa sai đã đi xa, cụ cho mỏ làng đi trước, đích thân cầm roi đi sau, bắt mõ làng rao lớn tiếng : "Trình quan viên làng nước, có lệnh cụ Án truyền rằng : người nào quá khóa phải phạt ba roi và bị đuổi ra khỏi làng." Rồi cụ tụ tập dân lại khích lệ họ.
Sau đó, quan quân ùa vào làng, họ bắt toàn thể dân làng tập trung lại, và rồi gọi cụ An Khảm ra trình diện và nói : "Mau nộp ngay lập tức các đạo trưởng Tây dương và bản quốc, cũng như bọn thầy giảng lẩn trốn trong làng. Nếu bất tuân lão sẻ bị bắt, bị tịch thu tài sản, nhà cửa sẽ bị thiêu hủy, còn chíng lão sẽ bị kết tội chống cưỡng nhà vua." Cụ An Khảm hết sức bình tĩnh vì biết chắc các thừa sai đã trốn xa rồi, cụ mạnh bạo trả lời : "Đúng, đạo chúng tôi có các đạo trưởng nhưng các ngài ở đâu làm sao chúng tôi biết được. Xin quan cứ tự do lục soát nếu tìm thấy vị nào trong làng thì quan muốn làm gì cũng được."
Thế là quân lính chia nhau lục soát khắp ncả nhà, dĩ nhiên là không tìm thấy một linh mục. Nhưng lính lại phát hiện được một số tượng ảnh, áo lễ nên chủ nhà bị kết tội là chứa chấp đạo trưởng. Cụ An đã đứng ra nhận là mình đã mua những thứ đó. Tuy vậy quan vẫn ra lệnh bắt trói cả nhà.
Trở lại nơi tập trung dân làng, quan An sát cho đặt một Thánh Giá ngay giữa sân, rồi bắt mọi ngừơi lần lượt bước qua. Nhưng quan đã thất bại dù lính có đi tới đi lui đe dọa, toàn thể dân làng không một ai bước qua Thánh Giá. Một bô lão có lẽ vì quá sợ, run rẩy tiến lên vài bước, định thi hành lệnh quan, nhưng cụ An nhanh chân hơn cản lại và khiển trách. Viên quan tức giận quát lên rằng : "Ta sẽ mất chức nếu không kết tội đươc An Khảm và bọn người vô phúc này." Thế rồi quan lại bắt trói An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn và một số người khác, rồi giải về Nam Định, riêng cụ An được chở đi trong thuyền của quan.
Chúng tôi được nước Thiên Đàng
Về tới Nam Định, hai cha con cụ An Khảm được gặp nhau trong những lần ra tòa, và sau này được giam chung. Hai cha con vui mừng và xúc động khuyến khích nhau chịu khổ vì lòng kính mến chúa Kitô.
Tất cả những tù nhân Quần Cống hẹn với nhau quyết tâm trung thành với đức tin, dù phải hy sinh mạng sống. Riêng cụ An Khảm đã nhiều lần đại diện cả nhóm trả lời với quan, đã tìm cách giáo lý trong đạo.
Một hôm sau khi bắt được Đức Cha Xuyên, quan cho dẫn ba ông đến trước mặt Đức Cha. Các ông kính cẩn chào hỏi và không dấu được niềm vui gặp lại vị chủ chăn của mình. Thấy thế quan phỏng đoán và kết tội các ông chứa chấp vị thừa sai này. Tuy thực sự Đức Cha đã ở nhà mình, cụ An Khảm tìm cách trả lời chung chung : "Là ngừơi tín hữu, chúng tôi tôn kính và yêu mến bất cứ một linh mục nào, dù chưa hề quen biết."
Sau bốn tháng rưỡi bị giam, một hôm quan báo cho biết là cả ba vị đều bị kết án xử giảo. Ông Cai Thìn hỏi lại án đã kết tội gì, quan cho hay là tội chống lại nhà vua. Ong Thìn cực lực phản đối. Cuối cùng theo đề nghị của ông, bản án được viết thêm bốn chữ "bất khẳng quá khóa"; nghĩa là tội không chịu bước qua Thập Giá. Các ông vui mừng hân hoan vì được chết cho Đức Kitô. Và trong những ngày còn lại, các ông chuẩn bị sốt sắng đón chờ ngày lãnh nhận hồng phúc tử đạo.
Ba vị chứng nhân đức tin đã cảm nghiệm sâu xa lời Đức Kitô chúc phúc cho những người bách hại vì danh Ngài. Đối với ba vị, bị bắt chịu khổ nhục, bị giết vì danh Đức Kitô là niềm vinh phúc lớn lao. Các vị đã hân hoan đón chờ nó, đồng thời khích lệ an ủi các tín hữu khác. Và khi nghe báo giờ xử tử đã tới, cụ An Khảm vui vẻ nói với mọi người : "Cha con chúng tôi hôm nay được nước Thiên Đàng". Cả ba vị đã sẵn sàng giả từ trần gian để về hợp đoàn với hàng ngũ các thánh Tử Đạo, và mở rộng đôi tay đón nhận phần thưởng vinh phúc Chúa đã hứa ban cho những tôi trung của Ngài.
Ngày 13-01-1859, ngoài ba vị An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn còn có bảy giáo hữu làng Quần Cống khác được đưa ra pháp trườngBảy Mẫu, Nam Định. Trên đường đi các vị lớn tiếng đọc kinh. Đến nơi xử các vị tiếp tục đọc kinh Tin, Cậy, Mến và nhiều lần kinh Ăn Năn Tội chung với nhau, rồi lớn tiếng kêu Chúa Giêsu.
Quân lính mạnh tay xô các vị té ngửa trên đất, rồi trói chân tay từng người vào cọc đã chôn sẵn. Mỗi người bị hai người lính cầm hai đầu dây thừng tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở. Các tín hữu làng Quần Cống rước các vị đưa về quê mình, và tổ chức an táng trọng thể.
Đức Piô XII đã suy tôn ba anh hùng tử đạo : Đaminh Phạm Trọng Khảm, Giuse Phạm Trọng Tả, Luca Phạm Trọng Thìn lên bậc chân phước ngày 29-04-1951. Ngày 19-06-2002, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các Ngài lên hàng hiển thánh.
Nguồn từ tu viện Đa Minh

Trường Thi tử Đạo
Bảy chín tuổi cụ Phạm Trọng Khảm
Sống qua thời dưới tám triều Vua

Gia đình Quần Cống quê mùa 

Mẹ cha phú quý chẳng thua thị thành.

Phần con cái hạ sanh được bảy
Cả gái trai hết thảy đều ngoan

Mười tám tuổi quen một nàng

Kết hôn chị Phượng người làng đoan trang.

Vợ chồng sống đảm đang đạo đức 
Ðược bốn con rất mực nết na

Cụ ham học, giỏi tề gia 

Dùi mài kinh sử thật là thông minh.

Thi đỗ đạt Triều đình phong chức
Án Sát Quan nhất mực thanh liêm

Nhưng sau cụ bị tố liền

Là người Công giáo vua truyền nghe theo.

Bị cách chức, phẩm đeo lột hết
Về xóm làng, khăn xếp bạch đinh

Ðức tin cụ vẫn nhiệt tình

Bước theo chân Chúa, tôn vinh danh Ngài.

Nơi làng cũ triển khai làm ruộng
Rất cần cù ưa chuộng tình thương

Giúp người lạc lối lỡ đường

Giàu lòng bác ái giáo lương một nhà.

Chia của cải gần xa nghèo túng
Nhập dòng ba hướng đúng Ðaminh

Nghèo hèn cụ trọng chẳng khinh

Ðón mời kẻ khó gia đình ăn chung.

Ðược Cha xứ trong vùng tín nhiệm
Ðặt làm trùm đại diện giáo dân

Sau bầu lý trưởng thấy cần

Phải nhờ Giám mục lãnh phần động viên.

Cụ Trọng Khảm nể liền đảm nhận
Rất nhiệt tình tường tận giúp dân

Các Thừa sai khắp xa gần

Những ngày gặp khó ân cần giúp ngay.

Dân mộ mến thăng ngay Tiên Chỉ
Vẫn giữ luôn hoan hỉ đạo đời

Thanh liêm vọng tiếng khắp nơi

Án Quan từ bỏ rạng ngời đức tin.

Tại Bảy Mẫu vui nhìn xử trảm
Chúa thưởng ban xứng đáng Nước Trời

Ðaminh Trọng Khảm lìa đời

Ðược phong Hiển thánh rạng ngời Thiên Cung.

Quan Án Sát oai hùng từ bỏ
Trong gia đình giàu có sẻ chia

Bạch đinh từ chối mũ hia

Lý hình xử giảo cắt lia thân mình.

Phạm Trọng Khảm hy sinh tử đạo
Vẫn kiên trung loan báo Tin mừng

Thánh nhân gương mẫu sáng trưng

Tôn vinh danh Chúa lẫy lừng năm Châu.

Phạm Trọng Khảm sinh đầu Canh Tý (1780)
Năm Kỷ Mùi (1859) vì đạo chứng minh

Tân Mão (1951) Toà Thánh thuận tình

Suy tôn Chân phước hiển vinh Nước Trời.


Lời bất hủ:
Thánh nhân can đảm tuyên bố trước anh em binh sĩ: "Kẻ nào trong anh em đạp lên Thánh giá, khi quan về, tôi sẽ đuổi ra khỏi làng, sẽ không có chốn nào chôn xác đâu".

Lời tâm niệm chung 1:
Chúng ta noi gương các thánh Tử đạo Việt Nam, hết lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người, bằng cách giúp đỡ tha nhân phần hồn lẫn phần xác, trọn đời chịu cực chịu khó để tin thờ Thiên Chúa, sẵn sàng hy sinh giúp đỡ những người làm việc tông đồ, và nâng đỡ anh em đồng đạo, trung thành với Chúa, với Giáo hội cho đến hơi thở cuối cùng...
Nguồn: tinmung.net; hddmvn.net
Share:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét