9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây
với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:10 “Có
hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người
kia làm nghề thu thuế.11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy
Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính,
ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng
cho Chúa một phần mười thu nhập của con.13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa,
thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy
Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.14 Tôi nói cho các ông biết: người
này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì
không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn
lên.”
Suy niệm:
Tự hào về sự đạo đức của mình và
khinh người khác, Đó chẳng phải chuyện của các ông Pharisêu ngày xưa. Đó là
chuyện của con người mọi thời, của chính các môn đệ hôm nay. Chúng ta nghe Đức
Giêsu kể dụ ngôn này cho mình trong Mùa Chay thánh.
Hai nhân vật đối lập nhau, được đặt
bên nhau trong dụ ngôn. Họ ở trong cùng một đền thờ, cùng đứng cầu nguyện trước
nhan Chúa. Họ là một ông Pharisêu thánh thiện và một người thu thuế tội lỗi. Nghe
lời cầu nguyện của họ, chúng ta biết được lòng họ. Người Pharisêu không xin gì
cho mình, ông chỉ tạ ơn Thiên Chúa. Ông kể ra những điều xấu mà ông không làm
như bao kẻ khác, hay như tên thu thuế mà ông thoáng thấy đứng cuối đền thờ (c.
11). Ông còn kể những việc đạo đức tự nguyện về ăn chay và dâng cúng mà ông đã
làm vượt quá những gì Luật đòi buộc. Lời cầu nguyện của ông khiến nhiều người
Do-thái tử tế phải thèm. Còn người thu thuế thì đứng xa, cúi đầu, đấm ngực, cầu
xin cách đơn sơ : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (c. 13). Anh
thấy mình bất xứng, bất lực, chỉ biết cậy dựa vào tình thương tha thứ.
Kết luận của Đức Giêsu hẳn đã làm
nhiều người chưng hửng. Người thu thuế được Thiên Chúa làm cho nên công chính, còn
người Pharisêu thì không (c. 14). Thiên Chúa có bất công không ? Chúng ta có cần
sống tử tế nữa không ? Thật ra, ông Pharisêu không được gì vì ông đã không xin
gì. Ông không xin vì ông thấy mình quá ư giàu có về mặt đạo đức. Ông ra trước
Thiên Chúa với một kho công trạng của mình. Có bao nhiêu chữ con đầy tự hào
trong lời nguyện của ông. Chúng ta tưởng ông mở ra khi nói “con tạ ơn Thiên
Chúa” nhưng thực tế ông đã khép lại, quay vào mình, ngắm nghía vẻ đẹp của mình.
Rốt cuộc Thiên Chúa là người thừa, cùng lắm chỉ là người ông đến đòi nợ. Ngược
lại, anh thu thuế tuy có nhiều tiền, nhưng thấy mình tay trắng, lỗi tội. Chính
điều đó khiến anh hết sức cần đến Thiên Chúa. Ngài đã nghe tiếng kêu của anh từ
xa, từ cuối đền thờ.
Không cần Thiên Chúa và coi thường
tha nhân, vẫn là cám dỗ muôn thuở. Nên thánh không phải là chuyện “tôi làm” mà
là chuyện để Thiên Chúa tự do làm nơi đời tôi. Chỉ ai nhìn nhận sự yếu đuối của
mình, lời cầu nguyện của người đó mới đánh động được trái tim Thiên Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con trở nên
đơn sơ bé nhỏ, nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, dễ thấy Chúa hiện diện và
hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa
và đe dọa, xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu để con biết
cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu để con dám
buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an
sâu thẳm, vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài, hạnh phúc vì được cùng Ngài
chịu khổ đau. Amen.
28 Có một người trong các kinh sư
đã nghe Đức Giê-su và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau. Thấy Đức
Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn,
điều răn nào đứng đầu? “29 Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây,
hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.30 Ngươi phải
yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và
hết sức lực ngươi.31 Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính
mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.”32 Ông kinh sư nói với
Đức Giê-su: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất,
ngoài Người ra không có Đấng nào khác.33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí
khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ
toàn thiêu và hy lễ.”34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì
bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu! ” Sau đó, không ai dám chất vấn Người
nữa.
Holy Gospel
of Jesus Christ according to Saint Mark 12:28b-34.
One of the scribes came to Jesus
and asked him, "Which is the first of all the commandments?" Jesus
replied, "The first is this: 'Hear, O Israel! The Lord our God is Lord
alone! You shall love the Lord your God with all your heart, with all your
soul, with all your mind, and with all your strength.' The second is this: 'You
shall love your neighbor as yourself.' There is no other commandment greater
than these." The scribe said to him, "Well said, teacher. You are
right in saying, 'He is One and there is no other than he.' And 'to love him
with all your heart, with all your understanding, with all your strength, and
to love your neighbor as yourself' is worth more than all burnt offerings and
sacrifices." And when Jesus saw that (he) answered with understanding, he
said to him, "You are not far from the kingdom of God." And no one
dared to ask him any more questions.
There are certain kinds of love
that appear to be extremely great and perfect in the eyes of creatures but
which, before God, are small and of no value. The reason for this is that these
friendships are not founded at all on true charity, which is directed towards
God, but only on certain agreements and natural inclinations.
There are others, to the contrary,
that seem extremely slight and empty in the world’s eyes but which, before God,
are full and most excellent because they are made only for God and in God
without interference of our own interest. The acts of charity that we perform
towards those whom we love in this way are a thousand times more perfect
insofar as all is purely for God, but the services and other forms of help we
offer those we love by inclination are of much less merit in view of the great
complacency and satisfaction we have in doing them and because, generally
speaking, we do them more through this movement than for love of God.
There is yet another reason that
makes those first friendships we have spoken about less than the latter: it is
that they do not endure since, as their cause is so weak, no sooner does some
contradiction arise than they start to become cold and change. This does not
happen to those that are only in God because in this their cause is solid and
permanent.
Signs of friendship that we make
contrary to our own inclination towards people to whom we have an antipathy are
better and more pleasing to God than those we make drawn by sensible
affections. And this should not be called duplicity or dissimulation since, if
I have a contrary feeling, it is only in the lower part and the acts that I
make are made with the force of reason, which is the principal part of my soul.
Thus those who have nothing
loveable about them are happy because the love one bears towards them is
excellent since it is in God.
Daily Gospel.
Suy niệm:
Giữa một rừng 365 điều cấm làm và
248 điều phải làm dựa theo Luật, các rabbi thường tranh luận với nhau xem điều
răn nào đứng đầu. Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi của vị kinh sư bằng lời mở đầu của
kinh Shema, kinh này được người Do-thái đọc sáng chiều mỗi ngày: “Nghe đây, hỡi
Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến
Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, với tất cả trái tim ngươi, tất cả linh hồn
ngươi, tất cả trí tuệ ngươi, tất cả sức lực ngươi” (Đnl 6, 4). Đó là điều răn đứng
đầu, điều răn thứ nhất trong mọi điều răn (c. 29). Tuy nhiên, Đức Giêsu còn muốn
thêm một điều răn thứ hai nữa. “Ngươi phải yêu mến người thân cận với ngươi như
chính mình ngươi” (Lv 19,18). Và ngài kết luận : “Chẳng có điều răn nào khác lớn
hơn nhũng điều răn đó” (c.31).
Đức Giêsu tóm gọn mọi luật lệ trong
hai điều răn, bằng hai câu trích trong sách thánh. Cả hai đều bị chi phối bởi một
động từ duy nhất : yêu mến. Yêu mến Thiên Chúa, yêu mến tha nhân: đó là câu trả
lời của Đức Giê su cho ông kinh sư Do-thái cách đây hai ngàn năm. Đó cũng là
câu trả lời của ngài cho các kitô hữu hôm nay. Ngài mời ta hãy để lòng yêu mến
thấm vào mọi lãnh vực của cuộc sống. Điều răn thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa,
yêu Ngài với tất cả con người mình (c.30). yêu Ngài một cách tuyệt đối, và đặt
Ngài lên trên mọi người, mọi sự khác, vì chỉ mình Ngài là Tạo Hóa, tất cả mọi sự
khác chỉ là thụ tạo. Chúng ta yêu mến Thiên Chúa để đáp lại tình Ngài yêu mến
chúng ta trước. Ăn ngay ở lành không đủ. Theo đạo không phải chỉ là chuyện ăn
ngay ở lành. Tình yêu đối với tha nhân không thay thế được tình yêu đối với
Thiên Chúa. Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa lại đòi hỏi tình yêu đối với tha
nhân. Thương người như thể thương thân. Nhưng đối với tôi thương thân là gì ?
Tôi cần gì trong cuộc sống ? Cảm thông, khoan dung, trung tín, tôn trọng, khích
lệ, nâng đỡ, hiền từ… Tôi biết người khác cũng cần những điều ấy như tôi, và
tôi muốn trao cho họ.
Có một cuộc đối thoại thực sự và
thân tình giữa ông kinh sư với Đức Giêsu. Ông hỏi, nhưng không có ý thử ngài. Câu
trả lời của Đức Giêsu khiến ông hoàn toàn nhất trí. Ông thấy lòng yêu mến Thiên
Chúa và tha nhân lớn hơn mọi lễ vật trong Đền thờ, dù ông không coi thường việc
dâng lễ vật cho Thiên Chúa. Phụng vụ phải đi kèm với cuộc sống mến yêu.
Mùa Chay là thời gian trở lại với
trái tim của mình để xem Thiên Chúa có chỗ nào trong trái tim đó. Chỉ khi tim
tôi bị tình yêu Thiên Chúa chinh phục và chiếm trọn, nó mới có thể mở ra đến vô
cùng trước tha nhân.
Lời nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của
Chúa. Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng
đại như Chúa vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao
dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ
nhen, mọi trả thù ti tiện. Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, không một
biến cố nào làm xáo trộn, không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành
công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích. Xin cho quả tim con đủ lớn để
yêu người con không ưa. Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những
người thù ghét con.
Bấy
giờ Đức Giê-su trừ một tên quỷ, và nó là quỷ câm. Khi quỷ xuất rồi, thì người
câm nói được. Đám đông lấy làm ngạc nhiên.15 Nhưng trong số đó có mấy người lại
bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.”16 Kẻ khác lại muốn thử
Người, nên đã đòi Người một dấu lạ từ trời.17 Nhưng Người biết tư tưởng của họ,
nên nói: “Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nọ đổ xuống nhà kia.18 Nếu
Xa-tan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được? … bởi
lẽ các ông nói tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.19 Nếu tôi dựa thế
Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính
họ sẽ xét xử các ông.20 Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả
là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông.21 Khi một người mạnh được vũ trang
đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn.22 Nhưng nếu
có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí
mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được. 23 “Ai
không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán.
Suy niệm:
Đức
Giêsu vừa mới trục xuất được một quỷ câm. Khi quỷ xuất ra thì người câm nói
ngay được (c. 14). Cùng với sự ngạc nhiên thích thú của đám đông, còn có sự vu
khống xuyên tạc của một số người khác. Họ cho rằng chẳng qua Đức Giêsu chỉ là kẻ
dựa dẫm Bêendêbun. Bêendêbun là tên của một vị thần ở vùng Canaan. Người
Do-thái vẫn coi các thần dân ngoại là ma quỷ (1Cr 10, 19-20). Ở đây, Bêendêbun
chính là quỷ vương, là Xatan (c. 18). Như thế Đức Giêsu bị tố cáo là người cùng
phe với quỷ, dùng tay tướng quỷ để trừ các quỷ nhỏ.
Đức
Giêsu cho thấy sự sai lầm của lập luận này. Ngài nhắc đến nước của Xatan, một
nước hiện vẫn còn đứng vững (c. 18). Nước ấy chưa sụp đổ vì không có sự chia rẽ
giữa các quỷ với nhau, nên không thể bảo là Ngài dùng quỷ vương để trừ quỷ nhỏ.
Vả lại, có những người Do-thái khác cũng trừ quỷ như Ngài. Có ai dám bảo là họ
thông đồng với quỷ vương không ? (c. 19).
Đức
Giêsu vén mở cho thấy ý nghĩa của việc Ngài trừ quỷ. “Nếu tôi dùng ngón tay
Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (c. 20).
Nước Thiên Chúa đến qua việc Đức Giêsu giải phóng.
Ngài
giải phóng con người khỏi bệnh tật thân xác. Ngài trả lại cho con người khả
năng nghe, nói, nhìn. Ngài kéo người bất toại đứng lên, đi được, đưa tay ra. Ngài
trả người phong về với cộng đoàn, đưa người chết ra khỏi mộ. Trên hết, Ngài giải
phóng con người khỏi sự chật hẹp của lòng mình. Ngài mở con người ra trước nỗi
đau và cô đơn của anh em. Ngài nâng con người lên tới tầm cao của trái tim
Thiên Chúa. Như thế là con người được thật sự tự do. Chỗ nào có tự do thật sự,
chỗ đó có Nước Thiên Chúa. Chỗ nào có Nước Thiên Chúa, chỗ đó nước của Xatan phải
lui đi.
Cuộc
chiến giữa Nước Thiên Chúa và nước Xatan vẫn tiếp diễn, nhưng Nước Thiên Chúa
đã đến rồi, ngón tay Thiên Chúa ở đây. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục trừ quỷ và mời
chúng ta cộng tác. Làm sao để con người hôm nay không còn bị ám bởi bất cứ thụ
tạo nào, không sụp lạy trước bao ngẫu tượng mới của thời đại? Quỷ vẫn là kẻ mạnh,
được vũ trang đầy đủ, đứng canh nhà của nó (c. 21). Nhưng Thiên Chúa và Chúa
Giêsu lại là người mạnh hơn (c. 22). Người mạnh hơn tấn công, tước vũ khí và
phân chia chiến lợi phẩm.
Trong
cuộc chiến này, chúng ta không có quyền mập mờ, hàng hai. Mùa Chay mời chúng ta
đứng hẳn về phía Giêsu, vì ai không ở với Giêsu là chống lại Ngài, ai không thu
góp với Giêsu là phân tán (c. 23). Hãy quyết định dứt khoát để cùng với Giêsu
chiến đấu cho Nước Cha.
Lời nguyện
Lạy
Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng thích tự do, nhưng mặt khác chúng con thấy
mình dễ bị nô lệ. Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra. Xin giúp chúng
con được tự do thực sự: tự do trước những đòi hỏi của thân xác, tự do trước đam
mê của trái tim, tự do trước những thành kiến của trí tuệ. Xin giải phóng chúng
con khỏi cái tôi ích kỷ, để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa, để nhạy cảm
trước nhu cầu bé nhỏ của anh em.
Lạy
Chúa Giêsu, xin cho chúng con được tự do như Chúa. Chúa tự do trước những ràng
buộc hẹp hòi, khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi và chữa bệnh ngày Sabát. Chúa
tự do trước những thế lực đang ngăm đe, khi Chúa không ngần ngại nói sự thật. Chúa
tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết, vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến
cùng. Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng, để chúng con được tự
do bay cao.
17
“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến
không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước
khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi,
cho đến khi mọi sự được hoàn thành.19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những
điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất
trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn
trong Nước Trời.
Holy Gospel of Jesus Christ
according to Saint Matthew 5:17-19.
Jesus
said to his disciples: "Do not think that I have come to abolish the law
or the prophets. I have come not to abolish but to fulfill. Amen, I say to you,
until heaven and earth pass away, not the smallest letter or the smallest part
of a letter will pass from the law, until all things have taken place. Therefore,
whoever breaks one of the least of these commandments and teaches others to do
so will be called least in the kingdom of heaven. But whoever obeys and teaches
these commandments will be called greatest in the kingdom of heaven."
“I
have not come to abolish, but to fulfil.” The strength and power of these words
of the Son of God enclose a profound mystery.
For
the Law prescribed works, but it directed all those works towards faith in
realities that would be made manifest in Christ: for the Savior's teaching and
Passion are the great and mysterious design of the Father's will. Under the
veil of its inspired words, the Law made known the birth of our Lord Jesus
Christ, his incarnation, Passion and resurrection. The prophets, no less than
the apostles, teach us repeatedly that the mystery of Christ had been prepared
from all eternity to be revealed in our own times...
Christ
did not want us to think that his own works comprised anything other than the Law's
demands. That is why he himself insisted: “I have not come to abolish, but to
fulfil.” Heaven and earth... will disappear but not the least commandment of
the Law, for all the Law and the prophets find their fulfilment in Christ. At
the time of his Passion... he declared: “It is finished” (Jn 19:30). And at
that very moment every word of the prophets was confirmed.
For
this reason Christ declares that not even the least of God's commandments can
be cancelled without offending God... Nothing can be more insignificant than
the smallest. And humblest of all was the Lord's Passion and death on the
cross.
Daily Gospel.
Suy niệm
Vào
thời Tin Mừng Mátthêu được viết, các người Do-thái thuộc Hội Đường thường chỉ
trích các người Do-thái đã tin vào Đức Giêsu Kitô, coi họ như những người đã bỏ
Luật Môsê, bỏ cái cốt lõi của Do-thái giáo. Đức Giêsu của Mátthêu đã bác bỏ lối
hiểu sai này. “Thầy không đến để bãi bỏ, nhưng để kiện toàn” (c. 17). Kiện toàn
là đưa Luật Môsê đến chỗ thành tựu, hoàn hảo, bởi lẽ nó có những hạn chế, bất
toàn, do Thiên Chúa phải nương theo trình độ lúc đó của Dân Ngài. Kiện toàn là
giải thích lại Luật Môsê theo đúng ý Thiên Chúa. Chẳng ai biết Ý Thiên Chúa Cha
bằng Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Hơn ai hết, Đức Giêsu có quyền nói lên ý
nghĩa mới mẻ của Lề Luật.
Có
một dòng chảy liên tục trong khoa sư phạm của Thiên Chúa. Ngài huấn luyện Dân
Ngài qua Môsê và các ngôn sứ trong lịch sử. Đỉnh cao nhất là Đức Giêsu, Đấng
vén mở trọn vẹn ý định của Thiên Chúa. Đức Giêsu không phá những công trình đi
trước, ngài kiện toàn. Lời giáo huấn của ngài vừa liên tục với, vừa vượt qua
Giao Ước thứ nhất còn khiếm khuyết. Vượt qua về chiều rộng, khi ngài mời ta đi
xa hơn chuyện không được giết người, mà còn không được có hành vi, lời nói giận
ghét anh em (Mt 5, 22). Vượt qua về chiều sâu, khi ngài đòi ta không được giữ
Luật kiểu giả hình bên ngoài, nhưng phải khởi đi từ trái tim, từ cái tâm bên
trong (cc. 27-28), khi ngài đưa ra những đòi hỏi tận căn trước đây chưa hề có về
việc chẳng những không được trả thù mà còn yêu kẻ thù (cc. 38-48). Mọi lề luật
đều qui về điều răn chính yếu là yêu thương. Phải yêu như Cha trên trời mới trở
thành con cái Cha (c. 45).
Đức
Giêsu mời chúng ta nghiêm túc giữ Luật Môsê đã được ngài kiện toàn. Luật ấy là
lời giáo huấn của ngài mà các môn đệ đã nghe. Con người thời nay thích tự do
nên dị ứng với luật lệ. Nhưng giữ luật không phải là chuyện của nô lệ hay trẻ
con. Khi tránh được thói nệ luật, cứng nhắc bám vào mặt chữ, ta có thể giữ luật
như cách biểu lộ hồn nhiên tình yêu với Chúa và tha nhân. Trung tín với những
đòi hỏi nhỏ bé của các điều răn chỉ vì yêu, và “dạy người ta mọi điều Thầy đã
truyền cho anh em” (Mt 28, 20), đó là con đường dẫn đến hạnh phúc mai sau cho
người môn đệ.
Lời nguyện:
Lạy
Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng thích tự do, nhưng mặt khác chúng con thấy
mình dễ bị nô lệ. Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra. Xin giúp chúng
con được tự do thực sự: tự do trước những đòi hỏi của thân xác, tự do trước đam
mê của trái tim, tự do trước những thành kiến của trí tuệ. Xin giải phóng chúng
con khỏi cái tôi ích kỷ, để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa, để nhạy cảm
trước nhu cầu bé nhỏ của anh em.
Lạy
Chúa Giêsu, xin cho chúng con được tự do như Chúa. Chúa tự do trước những ràng
buộc hẹp hòi, khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi và chữa bệnh ngày Sabát. Chúa
tự do trước những thế lực đang ngăm đe, khi Chúa không ngần ngại nói sự thật. Chúa
tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết, vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến
cùng.
Xin
cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng, để chúng con được tự do bay cao.
21
Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu anh em con
cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? “22 Đức
Giê-su đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” 23
Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của
mình thanh toán sổ sách.24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ
mắc nợ vua mười ngàn yến vàng.25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán
y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ.26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống
bái lạy: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.”27 Tôn
chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.28
Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm
quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: “Trả nợ cho tao!”29 Bấy giờ, người đồng
bạn sấp mình xuống năn nỉ: “Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo
trả anh.”30 Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ.31
Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với
tôn chủ đầu đuôi câu chuyện.32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: “Tên đầy
tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta,33 thì
đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương
xót ngươi sao? “34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến
ngày y trả hết nợ cho ông.35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với
anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em
mình.”
Holy Gospel of Jesus Christ
according to Saint Matthew 18:21-35.
Peter
approached Jesus and asked him, "Lord, if my brother sins against me, how
often must I forgive him? As many as seven times?" Jesus answered, "I
say to you, not seven times but seventy-seven times. That is why the kingdom of
heaven may be likened to a king who decided to settle accounts with his
servants. When he began the accounting, a debtor was brought before him who
owed him a huge amount. Since he had no way of paying it back, his master
ordered him to be sold, along with his wife, his children, and all his
property, in payment of the debt. At that, the servant fell down, did him
homage, and said, 'Be patient with me, and I will pay you back in full.' Moved
with compassion the master of that servant let him go and forgave him the loan.
When that servant had left, he found one of his fellow servants who owed him a
much smaller amount. He seized him and started to choke him, demanding, 'Pay
back what you owe.' Falling to his knees, his fellow servant begged him, 'Be
patient with me, and I will pay you back.' But he refused. Instead, he had him
put in prison until he paid back the debt. Now when his fellow servants saw
what had happened, they were deeply disturbed, and went to their master and
reported the whole affair. His master summoned him and said to him, 'You wicked
servant! I forgave you your entire debt because you begged me to. Should you
not have had pity on your fellow servant, as I had pity on you?' Then in anger
his master handed him over to the torturers until he should pay back the whole
debt. So will my heavenly Father do to you, unless each of you forgives his
brother from his heart."
The
first word our Lord spoke on the cross was a prayer for those who were
crucifying him; thus he carried out what Saint Paul wrote: «In the days of his
flesh he offered prayer and sacrifice» (Heb 5:7). It is true that those who
were crucifying our divine Savior did not know him... for if they had known him
they would not have crucified him (1Cor 2:8). Therefore our Lord, seeing the
ignorance and weakness of those torturing him, began to make excuses for them
and offer this sacrifice to his heavenly Father for them – for prayer is a
sacrifice...: «Father, forgive them, for they know not what they do» (Lk
23:34). How great was the flame of love burning in our sweet Savior's heart,
since amidst the strongest of his pains, at the time when the strength of his
sufferings seemed to take from him even the ability to pray for himself, he
came, through the strength of charity, to forget himself but not those he had
created...
By
this he wanted to make us understand the love he bore for us, a love that could
not be lessened by any kind of suffering, and to teach us, too, what our hearts
ought to be with regard to our neighbor... Now,
since this divine Lord had been occupying himself in asking forgiveness for us,
it is absolutely certain that his request was granted. For his divine Father
honored him too much to refuse him anything he asked.
Daily Gospel.
Suy niệm:
“Tôi
viết cho anh, người bạn vào giây phút cuối của đời tôi… Vâng, tôi cũng xin nói
với bạn tiếng Cám Ơn và lời Vĩnh biệt này… Ước gì chúng ta, những người trộm
lành hạnh phúc, được thấy nhau trên Thiên đàng, nếu Thiên Chúa muốn, Người là
Cha của hai chúng ta.” Đây là những câu cuối trong di chúc của cha Christian de
Chergé, tu viện trưởng của một đan viện khổ tu ở Tibhirine, nước Algérie, châu
Phi. Cha viết những câu này vào cuối năm 1993 cho một người nào đó sẽ giết
mình. Ngày 21-5-1996, cha đã bị nhóm Hồi giáo vũ trang chặt đầu cùng với sáu tu
sĩ khác trong đan viện.
Cha
Christian gọi kẻ sẽ giết mình là bạn, chứ không phải là kẻ thù hay sát nhân. Cha
coi mình cũng là tên trộm lành chẳng khác gì anh ta, cũng cần được tha thứ. Cha
chỉ mong gặp lại anh ta trên thiên đàng, vì cả hai đều là con, cùng được tha vì
được yêu bởi Thiên Chúa.
Dụ
ngôn hôm nay hẳn đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của cha Christian. Có hai người mắc
nợ, cả hai đều là đầy tớ của cùng một ông chủ. Một người mắc nợ ông chủ một món
nợ cực lớn, mười ngàn yến vàng. Một người mắc nợ đồng bạn mình một món nợ nhỏ,
một trăm quan tiền, mà người đồng bạn ấy lại chính là người đang mắc nợ ông chủ.
Cả hai đều không trả nổi và năn nỉ xin hoãn. Ông chủ chạnh lòng thương tha luôn
món nợ cho người thứ nhất. Nhưng người này lại dứt khoát không chịu hoãn lại
cho người thứ hai. Anh ta đã tống bạn mình vào ngục.
“Đến
lượt ngươi, ngươi lại không phải thương xót người đầy tớ đồng bạn như chính ta
đã thương xót ngươi sao ?” (c. 33). Lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa như
dòng suối chảy vào đời tôi. Thương xót tha thứ chính là để cho dòng suối ấy chảy
đi, chảy đến với người xúc phạm đến tôi nhiều lần trong ngày. Tôi tha bằng
chính sự tha thứ mà tôi đã nhận được từ Thiên Chúa. Không tha là giữ dòng suối
đó lại, và biến nó thành ao tù. Không tha là đánh mất cả những gì mình đã nhận
được. Người mắc nợ ông chủ nhiều, đã được tha một cách quảng đại bất ngờ, nhưng
sự tha thứ đó đã bị rút lại. Chỉ ai biết cho đi sự tha thứ mới giữ lại được nó
cho mình.
Chúng
ta đều là người mắc nợ và đều là đầy tớ của Thiên Chúa. Tôi nợ Chúa nhiều hơn
anh em tôi nợ tôi gấp bội. Sống với nhau tránh sao khỏi có lúc thấy mình bị xúc
phạm. Chỉ tha thứ mới làm cho tôi đi vào được trái tim của Thiên Chúa nhân hậu.
Chỉ tha thứ mới làm tôi được nhẹ lòng, và người kia được giải thoát.
Lời nguyện:
Lạy
Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện: Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi mọi biển
lận tầm thường. Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.
Xin
cho tôi sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.
Xin
cho tôi sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi
đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.
Xin
cho tôi sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.
Và
cho tôi sức mạnh tràn trề để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn.
24
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn
sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. 25 “Thật vậy, tôi nói cho các ông
hay: vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải
đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en;26 thế mà ông không được
sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta
miền Xi-đôn.27 Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở
trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man,
người xứ Xy-ri thôi.” 28 Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.29 Họ
đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người
lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.30 Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.
Holy Gospel of Jesus Christ
according to Saint Luke 4:24-30.
Jesus
said to the people in the synagogue at Nazareth: "Amen, I say to you, no
prophet is accepted in his own native place. Indeed, I tell you, there were
many widows in Israel in the days of Elijah when the sky was closed for three
and a half years and a severe famine spread over the entire land. It was to
none of these that Elijah was sent, but only to a widow in Zarephath in the
land of Sidon. Again, there were many lepers in Israel during the time of
Elisha the prophet; yet not one of them was cleansed, but only Naaman the
Syrian." When the people in the synagogue heard this, they were all filled
with fury. They rose up, drove him out of the town, and led him to the brow of
the hill on which their town had been built, to hurl him down headlong. But he
passed through the midst of them and went away.
Naaman
was a Syrian who had leprosy and could not be cured by anyone. Then a young
slave girl said there was a prophet in Israel who could cleans him of his
leprous affliction... Now learn who was that young girl among his slaves: she
was the youthful gathering from among all the Gentiles, namely the Church of
the Lord, who had formerly been crushed by the slavery of sin when as yet she
did not possess the freedom of grace. It was on her advice that this
empty-headed gentile people paid attention to the prophets' words, which they
had long held in doubt. No sooner had he believed he must obey than he was
washed free of every infection from his misdeeds. Naaman had doubted before his
cure; but you have been cured already and therefore ought not to doubt.
This
is the reason why you have already been told not just to believe what you see
as you draw near to the baptistery, lest you say: "Is this the great
mystery that 'eye has not seen nor ear heard, nor has it entered into the human
heart'? (1Cor 2:9). I see water as I see it every day; can these waters, into
which I have frequently gone down without ever being cleansed, make me
clean?" Learn from this that water does not cleanse without the Spirit.
This is why you have read that: the "three witnesses at baptism are one:
the water, the blood and the Spirit" (1Jn 5:7-8). For if you take one of
these away it is no longer the sacrament of baptism. Indeed, what use is the
water without the cross of Christ? It's just plain matter without any kind of
sacramental effect. Similarly, without water there is no mystery of
regeneration. "No one can enter the kingdom of God without being born of
water and the Spirit" (Jn 3:5). The catechumen believes in the cross of
the Lord Jesus with which he is signed, but if he has not been baptised in the
name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit he cannot receive the
remission of his sins nor draw from the gift of spiritual grace.
So
this Syrian immersed himself seven times in the Law, but you have been baptised
in the name of the Trinity. You have confessed the Father...., you have
confessed the Son, you have confessed the Holy Spirit... You have died to the
world and risen again for God and, after a certain fashion, been buried in this
worldly element at the same time. Dead to sin, you have been raised for eternal
life (Rm 6:4).
Suy niệm:
Trong
Mùa Chay Giáo Hội cho chúng ta nghe về kết cục khá bất ngờ và đau đớn của Đức
Giêsu khi Ngài trở về với hội đường của làng Nazareth thân quen.
Nơi
đây Ngài gặp lại những người đồng hương. Họ ngỡ ngàng trước những lời Ngài giảng.
Họ muốn Ngài làm những điều Ngài đã làm ở Caphácnaum (Lc 4, 23). Nhưng Đức
Giêsu đã đáp lại bằng câu tục ngữ: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi
quê nhà của mình” (c. 24). Đức Giêsu tự nhận mình là một ngôn sứ. Như những
ngôn sứ khác trong lịch sử Israel, Ngài cũng không được đón nhận và tin tưởng bởi
những người cùng quê. Họ nghĩ mình đã quá biết Ngài, biết gia tộc, biết nghề
nghiệp, biết quá khứ từ ấu thơ đến lúc trưởng thành. Chính cái biết ấy, đúng
nhưng không đủ, lại trở thành một chướng ngại cho việc họ nhận ra Ngài thật sự
là ai. “Ông này không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 22). Đúng Ngài là con
ông Giuse, một người thợ mộc. Đúng ngài là ông thợ mộc độc thân người làng
Nazareth. Giêsu Nazareth là tên được ghi trên thập tự, Nazareth sẽ mãi mãi đi với
tên Ngài để phân biệt ngài với những Giêsu khác.
Đức
Giêsu chẳng bao giờ coi thường Nazareth, quê nhà của mình. Ngài quen biết những
khuôn mặt trong hội đường này và yêu mến họ. Nhưng sứ mạng của Ngài trải rộng
hơn Nazareth nhiều. Ngài cho thấy mình không bị trói buộc bởi mối dây làng xã, cũng
không bị giữ chân bởi những người đồng bào cùng tôn giáo.
Để
biện minh cho thái độ rộng mở của mình, Đức Giêsu đã nhắc đến hành động của hai
vị ngôn sứ thời Cựu Ước. Êlia, vị ngôn sứ đầy quyền năng, được Thiên Chúa sai đến
với một bà góa. Bà này là một người dân ngoại sống ở Siđôn vùng dân ngoại. Êlisa,
vị ngôn sứ học trò của Êlia, đã chữa bệnh phong cho Naaman. Ông này là người
dân ngoại, chỉ huy đạo quân của Syria. Như thế các vị ngôn sứ nổi tiếng đã
không bị bó hẹp trong dân Do thái. Họ đã mở ra với dân ngoại.
Đức
Giêsu cũng chẳng bị giới hạn bởi bất cứ biên cương nào. Ngài chẳng dành cho quê
nhà Nazareth một ưu tiên nào. Phải chăng vì thế mà Ngài làm họ phẫn nộ đến độ
muốn xô Ngài xuống vực? Nỗi đe dọa lại đến từ chính những người đồng hương. Làm
sao chúng ta nhận ra và chấp nhận những ngôn sứ bề ngoài rất bình thường đang sống
trong cộng đoàn chúng ta hôm nay?
Cầu nguyện:
Lạy
Chúa Giêsu, dân làng Nazareth đã không tin Chúa vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ
công. Các môn đệ đã không tin Chúa khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều
kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa chỉ vì Chúa sống như một con người,
Cũng
có lúc chúng con không tin Chúa hiện diện dưới hình bánh mong manh, nơi một
linh mục yếu đuối, trong một Hội thánh còn nhiều bất toàn.
Dường
như Chúa thích ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con tập nhận ra
Ngài bằng con mắt đức tin.
Xin
thêm đức tin cho chúng con để khiêm tốn thấy Ngài tỏ mình thật bình thường giữa
lòng cuộc sống.
33
Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: “Có gia chủ kia trồng được một vườn nho;
chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một
tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa.34 Gần đến mùa hái nho, ông
sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ
ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ.36 Ông lại sai một số
đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy.37 Sau
cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con
ta.”38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi!
Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó! “39 Thế là chúng bắt lấy cậu,
quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.40 Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến,
ông sẽ làm gì bọn tá điền kia? “41 Họ đáp: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn
chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi
cho ông.”42 Đức Giê-su bảo họ: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh
Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính
là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.
43
Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không
cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. 45 Nghe
những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về
họ.46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là
một ngôn sứ.
Suy niệm:
Trong
Mùa Chay, Giáo Hội cho chúng ta nghe dụ ngôn những tá điền. Những tá điền này
được chủ nhà cho canh tác vườn nho của mình, để đến mùa hái nho họ giao lại cho
ông hoa lợi. Đây là một vườn nho được ông chủ quan tâm săn sóc. Ông đã trồng,
đã rào giậu, khoét bồn đạp nho và xây tháp canh. Tiếc thay, khi ông chủ sai các
đầy tớ đến để thu hoa lợi các tá điền chẳng những không nộp, mà còn hành hạ họ
và giết đi (c. 35). Nhóm đầy tớ thứ hai cũng chịu chung số phận (c. 36). Nhưng
ông chủ vẫn không thất vọng trước sự độc ác của các tá điền. Sau cùng, ông đã
sai chính con trai mình đến với họ. Đứa con thừa tự cũng chẳng được nể vì, bị
lôi ra khỏi vườn nho và giết đi.
Khi
kể dụ ngôn này Đức Giêsu muốn nói mình chính là người con ấy, người Con của ông
chủ vườn nho là Thiên Chúa. Ngài tiên báo về cái chết sắp đến của mình bởi tay
những tá điền sát nhân là các nhà lãnh đạo Do thái giáo đương thời. Cái chết của
Đức Giêsu nằm trong chuỗi những cái chết của các ngôn sứ là các đầy tớ đã được
Thiên Chúa sai đến với dân Ítraen trong dòng lịch sử. Tuy nhiên, cái chết ấy đặc
biệt cao quý vì là cái chết của chính Người Con. Hơn thế nữa, cái chết ấy không
phải là một dấu chấm hết. Nó là cánh cửa mở ra một trang mới của lịch sử, không
phải chỉ là lịch sử của dân tộc Ítraen, mà còn của cả nhân loại. “Viên đá thợ
xây nhà loại bỏ lại trở nên viên đá đầu góc. Đó là công trình của Chúa, công
trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (c. 42). Giáo Hội sơ khai thích dùng trích dẫn
trên đây của thánh vịnh 118, 22 để nói về việc Đức Giêsu bị loại trừ và được
tôn vinh (x. Cv 4,11; 1Pr 2,7). Bị loại bỏ là việc độc ác của con người, còn trở
nên viên đá góc là việc làm kỳ diệu của Thiên Chúa.
“Thu
hoa lợi”, “nộp hoa lợi”, “sinh hoa lợi” (cc. 34, 41, 43). Hoa lợi là điều mà
ông chủ nhắm tới khi ông đầu tư cho vườn nho. Ông đã không thu được hoa lợi gì
từ những tá điền độc ác, bởi đó ông đã lấy vườn nho lại, cho người khác làm để
lấy hoa lợi. Vườn nho bây giờ được hiểu là Nước Thiên Chúa. Nước này không còn
nằm trong tay giới lãnh đạo dân Do thái nữa, nhưng được trao cho một dân biết
sinh hoa lợi (c. 43). Dân mới ấy chính là Giáo Hội phổ quát, trong đó gồm cả
dân ngoại và những người Do thái tin Đức Giêsu.
Chúng
ta thuộc về Giáo Hội, thuộc về đoàn dân mới. Chúng ta hãnh diện vì được trao
phó vườn nho là Nước Thiên Chúa, và lo lắng trước trách nhiệm phải sinh hoa lợi
cho xứng ở đời này. Làm thế nào để Giáo Hội nộp hoa lợi đúng mùa cho Chủ? Làm
thế nào để chúng ta không rơi vào tội của các tá điền đi trước?
Cầu nguyện:
Lạy
Chúa Giêsu, con thường thấy mình không có thì giờ, nhưng đồng thời cũng thấy
mình lãng phí bao thời gian quý báu. Nhiều khi con tự hỏi mình thực sự làm việc
bao nhiêu giờ mỗi ngày.
Xin
cho con biết quý trọng từng giây phút đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian, để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa. Xin
cho con luôn làm việc như Chúa: hăng say, tận tụy và vui tươi, vâng phục, có
phương pháp và đầy sáng tạo.
Vì
quá khứ thì đã qua, và tương lai thì chưa đến, nên xin dạy con biết trân trọng
giây phút hiện tại.
Xin
cho con thấy Chúa lúc này đang ở đây bên con, và đang mời gọi con đáp lại tiếng
của Ngài bằng những hành động cụ thể.
Con
xin hiến dâng Chúa giây phút này như một hy lễ, với tất cả những bất ngờ, đớn
đau, thách đố.
Ước
gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại để hiện tại đưa con vào vĩnh cửu của
Chúa. Amen.