Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

Suy niệm thứ Năm Tuần Thánh - Tìm hiểu về Thánh lễ



Từ thời các Tông đồ, Thánh lễ đã là hoạt động trung tâm của phụng tự Kitô giáo. Bởi lẽ, Thánh lễ không là gì khác hơn việc cử hành Thánh Thể do Chúa Giêsu thiết lập trong bữa Tiệc ly, khi Người truyền cho các Tông đồ “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (x. Lc 22,19).
Thật là khó để tóm tắt trong một vài câu tất cả những gì diễn ra trong Thánh lễ, bởi vì toàn thể mầu nhiệm cứu độ được gắn liền với phụng vụ Thánh Thể. Thật vậy, như Đức Gioan Phaolô II viết, mầu nhiệm cứu độ về sự chết và sống lại của Đức Giêsu “như được thu gọn, tiên báo và tập trung vĩnh viễn trong hồng ân Thánh Thể”. Ở đây, chúng ta sẽ xem xét vắn tắt ba khía cạnh của Thánh Thể làm nền tảng để bước vào Thánh lễ:
·          Thánh Thể là việc tưởng niệm hy tế của Chúa Kitô trên thập giá,
·          Thánh Thể là sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu,
·          Thánh Thể là sự hiệp thông thánh thiêng với Chúa chúng ta.

Thánh lễ là Hy tế
Việc cử hành Thánh Thể thường được gọi là “hy tế Thánh lễ”. Nhưng Thánh lễ là hy tế theo nghĩa nào? Phải thừa nhận rằng điều này không dễ dàng nhận thấy. Xét cho cùng, các tín hữu Công giáo không đến dự lễ như những người Do Thái cổ thời lên đền thờ của họ, đem những con vật tới Thánh điện để các tư tế sát tế, mổ thịt, thiêu cháy và dâng lên Thiên Chúa. Hy tế được cử hành trong Thánh lễ rõ ràng không phải là một loại gia súc, con chiên hay con dê. Tuy nhiên, Thánh lễ nối kết với một hy tế thực sự – Hy tế của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng nhờ sự chết trên thập giá, đã dâng lên Chúa Cha đời sống mình, như một lễ vật toàn vẹn và cứu độ trần gian. Theo giáo huấn Công giáo, Thánh lễ không đơn thuần là nhớ lại hoặc tượng trưng cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Thánh lễ hiện tại hoá, một cách bí tích, hy tế cứu độ của Chúa Giêsu trên đồi Canvê, đến nỗi sức mạnh cứu độ của Thánh lễ có thể được áp dụng vào đời sống chúng ta cách đầy đủ hơn. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo dạy: “Vì trong hy tế thần linh được cử hành trong Thánh lễ, chính Đức Kitô Đấng đã tự hiến một lần bằng cách đổ máu trên bàn thờ thập giá, nay cũng được hiến dâng và được sát tế mà không đổ máu, nên hy tế này thật sự có giá trị đền tội”. Việc xem xét kỹ lưỡng những lời Đức Giêsu nói trong bữa Tiệc ly có thể soi sáng khía cạnh Thánh lễ như một hy tế.
Trong đêm trước ngày chịu chết, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể để tưởng nhớ cái chết và sự sống lại của Người, đồng thời là bảo chứng tình yêu. Trong khung cảnh lễ Vượt qua, Người cầm lấy bánh và nói đây là thân mình Người bị trao nộp, Người cũng cầm lấy chén rượu và nói đây là máu Người đổ ra để nhiều người được tha tội. Người kết thúc bữa Tiệc ly bằng cách truyền cho các Tông đồ cử hành bữa ăn này như một tưởng nhớ diễn ra trong phụng vụ: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.
Một trong những điểm quan trọng là cần xét xem ngôn ngữ Chúa Giêsu sử dụng khi nói về Mình và Máu Người có hàm ý hy tế rõ ràng như thế nào. Người nói rằng thân mình Người sẽ được hiến dâng và máu Người sẽ đổ ra. Như sẽ thấy, ngôn ngữ này gợi lên nghi lễ hiến tế của người Do Thái, trong đó thân xác con vật được hiến dâng và máu nó sẽ đổ ra khi bị sát tế. Vì thế, trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu đã báo trước hy tế của Người trên thập giá khi ám chỉ mình và máu Người được dâng hiến, tựa như chiên Vượt qua bị sát tế.
Điểm thứ hai là quan niệm của người Do Thái về tưởng nhớ. Trong Kinh Thánh, tưởng nhớ không chỉ là việc nhớ lại một sự kiện đã qua, nhưng là hiện tại hoá sự kiện đó. Vì thế, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, Người truyền cho các Tông đồ hiện tại hoá hy lễ Mình và Máu Người trong bữa Tiệc ly như là việc tưởng nhớ theo Kinh Thánh. Thật vậy, Mình và Máu Chúa Giêsu nói đến trong bữa Tiệc ly chính là Mình và Máu của Người được dâng hiến trên đồi Canvê, và đây là điều được hiện tại hoá cho chúng ta trong Thánh lễ. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích: “Đức Giêsu không chỉ khẳng định rằng những gì Người đang trao cho các Tông đồ ăn và uống là mình và máu Người; mà còn diễn tả ý nghĩa hiến tế và hiện tại hoá, về mặt bí tích, hy lễ của Người sắp được hiến dâng trên Thập giá để cứu độ mọi người.” Cũng vậy, sách Giáo lý dạy rằng: Thánh lễ “hiện tại hoá hy tế thập giá”. Nhờ Thánh Thể, “hy tế đẫm máu được thực hiện một lần duy nhất trên thập giá được hiện diện và việc tưởng niệm hy tế đẫm máu đó sẽ còn mãi mãi cho đến ngày tận thế, và sức mạnh cứu độ của hy tế đó sẽ được áp dụng để tha thứ các tội lỗi chúng ta phạm hằng ngày”.

Sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu
Khía cạnh thứ hai của Thánh Thể, đó là Thánh Thể bao hàm sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu. Giáo hội Công giáo dạy rằng, mặc dầu Chúa Kitô hiện diện giữa dân Người theo nhiều cách – trong người nghèo, trong Lời Người, trong các bí tích, trong lời cầu nguyện của hai hay nhiều người họp nhau nhân danh Người, nhưng Người hiện diện trong Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị. Bởi vì, Thánh Thể thực sự chứa đựng Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Đức Giêsu Kitô. Qua Thánh Thể, “Chúa Kitô toàn thể và trọn vẹn, vừa là Thiên Chúa vừa là con người hiện diện cách chắc chắn.”
Thánh Thể không chỉ là biểu tượng thánh về Chúa Giêsu. Không phải Chúa Kitô chỉ hiện diện thiêng liêng một cách mơ hồ trong bánh và rượu. Trong bữa Tiệc ly, Người cầm lấy bánh và rượu và nói: “Đây là Mình Thầy… Đây là chén Máu Thầy”. Không giống như các cộng đoàn các Kitô hữu khác quan niệm Thánh Thể đơn thuần chỉ là biểu tượng hoặc “lời nhắc nhở” về Chúa Giêsu, Giáo hội Công giáo khẳng định rằng trong Thánh lễ, khi linh mục đọc những lời của Đức Giêsu lúc truyền phép, bánh và rượu trên bàn thờ được biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô. Thuật ngữ được thần học sử dụng để nói về sự biến đổi này là transubstantiatio – biến đổi bản thể, cho thấy nhờ việc thánh hiến bánh và rượu “đã diễn ra sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Mình Thánh Đức Kitô, Chúa chúng ta, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người”.
Tuy nhiên, sự thay đổi này không phải là sự thay đổi hoá học. Hình dáng bề ngoài có thể nhận thấy của bánh và rượu vẫn như thế. Bánh thánh vẫn giống như bánh mì, có mùi vị và cảm giác như bánh mì. Và đối với giác quan, chén lễ vẫn chứa đựng vật chất là rượu bình thường. Cấu trúc hoá học của bánh và rượu vẫn không thay đổi. Nhưng dưới hình dáng này, Mình và Máu Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong Thánh Thể.
Khi chính Chúa Giêsu giảng về Thánh Thể, Người sử dụng ngôn ngữ có tính hiện thực sâu sắc để diễn tả việc chúng ta sẽ dự phần vào Mình Máu Người như thế nào. Đức Giêsu không chỉ nói về bánh và rượu sẽ là Mình và Máu Người trong bữa Tiệc ly (“Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy”), nhưng khi đưa ra giáo huấn rộng nhất về Thánh Thể, Người nói rằng chúng ta phải ăn thịt và uống Máu Người. Việc dự phần vào Mình và Máu thực sự của Người quá quan trọng đến nỗi Người dạy: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,53-56). Thánh Xyrilô thành Giêrusalem, thần học gia Kitô giáo sơ khai, khuyến khích các tín hữu tín thác vào những lời Chúa Giêsu dạy về Thánh Thể thực sự là Mình và Máu Người: “Anh em đừng xem bánh và rượu chỉ như những yếu tố tự nhiên, bởi vì Chúa đã nói rõ ràng rằng bánh và rượu là Mình và Máu Người: đức tin bảo đảm cho anh em điều này, mặc dù giác quan đề nghị thể khác”.

Lạy Đức Emmanuel, xin hãy đến
Một trong các tước hiệu của Chúa Giêsu theo Kinh Thánh là “Emmanuel,” nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Và Người ao ước ở gần chúng ta đến nỗi Người ban cho chúng ta quà tặng về sự hiện diện của Người cách bí tích trong Thánh Thể. Thế nên, Người tiếp tục là Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – trong mỗi và mọi Thánh lễ được cử hành trên khắp thế giới. Không bao giờ được coi thường món quà này. Sự kiện kinh ngạc nhất trong vũ trụ xảy ra trong mỗi Thánh lễ: Chính Con Thiên Chúa ngự xuống bàn thờ và cư ngụ giữa chúng ta.
Nhưng ước muốn ở lại với chúng ta của Thiên Chúa không dừng lại ở đây. Chúa Kitô tiếp tục hiện diện dưới hình bánh và hình rượu, thậm chí ngoài Thánh lễ, bao lâu bánh thánh còn tồn tại. Đó là lý do giải thích tại sao trong tất cả các nhà thờ Công giáo, Thánh Thể phải được lưu giữ trong một nơi thánh, gọi là Nhà tạm. Chúng ta nên tôn kính sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể bằng cách bái gối hoặc bằng một số cử chỉ thánh khác nhằm diễn tả lòng tôn thờ Chúa chúng ta đang ngự nơi nhà tạm. Chúng ta cũng nên cố gắng dành thời giờ cùng với Chúa Giêsu Thánh Thể ngoài Thánh lễ trong nhà thờ hay nhà nguyện. Sự thân mật như thế với Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể có thể đem lại sức mạnh và niềm an ủi lớn lao cho linh hồn. Thánh Anphongxô Ligôri lưu ý đây là một trong những thói quen có tầm quan trọng nhất mà chúng ta có thể thực hiện: “Trong tất cả các hình thức đạo đức, việc tôn thờ Chúa Giêsu trong Bí tích Cực thánh là việc trọng đại nhất sau các bí tích, được Thiên Chúa quý mến nhất, đồng thời cũng hữu ích nhất cho chúng ta”. Đức Gioan Phaolô II nói rằng khi chúng ta ở lại trước nhan Chúa nơi Thánh Thể thì cũng giống như người môn đệ Chúa yêu tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa Tiệc ly.
Trong tất cả các nhà tạm trên khắp thế giới, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục là Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở đó, trong bí tích Cực thánh, chúng ta gặp gỡ chính Chúa Giêsu, Đấng đã đi lại trên các con đường Paléttin, đã chữa lành kẻ đau ốm, đã kêu gọi mọi người hoán cải và ban ơn tha tội cho họ. Chính Chúa Giêsu vẫn tiếp tục công việc của mình là chữa lành, tha tội, và cứu độ thế gian, chỉ khác là bây giờ Người đến gặp gỡ chúng ta một cách bí tích trong Thánh Thể. Chúa Giêsu mong mỏi chúng ta đến gần Người và Người muốn thực hiện những công việc lớn lao nhất trong cuộc đời chúng ta, như Người đã làm cho Dân Người 2000 năm trước. Nhưng chúng ta phải đến với Người, và phải tin vào Người. Đức Gioan Phaolô II lưu ý rằng Chúa Giêsu rất mong mỏi chúng ta viếng thăm Người trong bí tích Thánh Thể: “Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta đến với bí tích tình yêu này. Đừng từ chối đến gặp Người để tôn thờ, để chiêm ngắm với đức tin tràn đầy…Chúng ta hãy không ngừng tôn thờ Thánh Thể.”

Sự hiệp thông linh thánh
Tân Ước mặc khải Chúa Giêsu như là chiên Vượt qua, bị sát tế trên đồi Canvê vì tội lỗi chúng ta (x.1Cr 5,7-8; 1Pr 1,19; Kh 5,6). Tuy nhiên, trong lễ Vượt qua, cũng như các nghi thức hiến tế khác của người Do Thái, chỉ có động vật bị sát tế thôi thì chưa đủ. Ăn thịt chiên hiến tế là một phần thiết yếu trong việc mừng lễ Vượt qua (x.Xh 12,8-12). Có một bữa ăn hiệp thông theo sau việc hiến tế. Đây là bữa ăn chia sẻ nhằm diễn tả sự gắn bó với giao ước và củng cố mối hiệp thông giữa người tham dự với Thiên Chúa.
Điều này có những hàm ý quan trọng giúp hiểu về Thánh Thể như là sự hiệp thông. Nếu Chúa Giêsu là chiên Vượt qua mới, được hiến tế vì tội lỗi chúng ta, thì dường như hợp lý khi có một bữa ăn hiệp thông theo sau việc hiến tế của Người trên thập giá – một bữa ăn, trong đó chúng ta chia sẻ Chiên hiến tế đích thực của Thiên Chúa, là Chúa Giêsu Kitô. Khi xem xét điều này theo cái nhìn Kinh Thánh, hầu như chúng ta có thể mong đợi ở đó một bữa ăn hiệp thông tuôn trào từ hy lễ của Chúa Kitô. Bữa ăn này sẽ dựa theo khuôn mẫu Kinh Thánh về hy lễ và hiệp thông.
Theo hướng này, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô chỉ ra điều phản chiếu quan niệm của người Do Thái về hy lễ và hiệp thông. Ngài dạy rằng: “Chúa Kitô, chiên Vượt qua của chúng ta, đã bị sát tế. Vì thế, chúng ta hãy mừng lễ” (1Cr 5,7-8). Cần lưu ý rằng, hy lễ của Chúa Kitô được lĩnh hội để đạt tới đỉnh điểm trong bữa tiệc mừng lễ. Sau đó, thánh Phaolô cho biết bữa tiệc mừng lễ mà ngài nói đến là gì: Đó là tiệc Thánh Thể. Ở chương 11, ngài đưa ra trình thuật về việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc ly, và trong chương 10, ngài nói về mối hiệp nhất sâu xa được hình thành qua việc chia sẻ Mình và Máu Chúa Kitô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,16-17).
Chẳng ngạc nhiên gì khi Giáo hội Công giáo nhận ra rằng hiệp lễ là chóp đỉnh của việc tôn thờ Thánh Thể. Sách Giáo lý giải thích: “Việc cử hành hy tế Thánh Thể hoàn toàn hướng đến sự hiệp nhất mật thiết của các tín hữu với Đức Kitô qua việc rước lễ. Rước lễ là lãnh nhận chính Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến vì chúng ta.” Thật vậy, hiệp lễ là sự kết hiệp sâu xa nhất mà chúng ta có thể có được cùng với Thiên Chúa. Thiên Chúa đến với chúng ta một cách bí tích trên bàn thờ trong Thánh lễ, và vẫn hiện diện với chúng ta nơi nhà tạm, ngoài Thánh lễ. Chỉ điều này thôi đã đủ gây kinh hoàng rồi! Nhưng ước muốn của Thiên Chúa là hiệp nhất chính mình với chúng ta thậm chí còn đi xa hơn nữa. Khi hiệp lễ, chính Chúa đi vào trong thân thể chúng ta, kết hiệp chính Người với linh hồn chúng ta cách mật thiết nhất.
Đây là lúc chúng ta hoàn toàn chú tâm vào Chúa, vì Người cư ngụ trong chúng ta sau khi hiệp lễ. Khi trở về chỗ ngồi trong nhà thờ, chúng ta nên bộc lộ lòng mình với Chúa – yêu mến, cảm tạ Người, trình bày với Người những nhu cầu và thỉnh nguyện sâu thẳm nhất. Trong giây phút sau hiệp lễ này, chúng ta trở nên giống Đức Maria, người cưu mang Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người trong cung lòng mình suốt chín tháng. Thật là nhiệm mầu! Đức Maria cưu mang Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu độ trong cung lòng mình! Tuy nhiên, điều diễn ra nơi Đức Maria, theo cấp độ nào đó, cũng diễn ra một cách bí tích nơi chúng ta, khi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Chúng ta cũng trở thành những nhà tạm sống động, đón tiếp chính Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người đến hiện diện. Đây không phải là lúc chúng ta nhìn quanh xem người ta mặc gì, cũng chẳng phải là lúc nghĩ về trận bóng đá vào chiều hôm đó sau Thánh lễ, hoặc làm sao để nhanh chóng lấy xe ra khỏi bãi. Đây là thời gian nghỉ ngơi với Chúa chúng ta, Đấng vì quá yêu thương, đã đến và ở lại nơi chúng ta.
Hiệp lễ thường xuyên có thể có tác động lớn lao trong đời sống chúng ta. Hiệp lễ có thể giúp chúng ta Vượt qua yếu đuối và tội lỗi, hướng dẫn chúng ta quyết định, trợ lực trong thử thách và đau khổ, đồng thời làm cho chúng ta có thể lớn lên trên đường thánh thiện. Khi được dưỡng nuôi bằng Mình và Máu Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, chúng ta dần dần được biến đổi nhờ sự sống của Người cư ngụ trong chúng ta. Theo nghĩa nào đó, như một thành ngữ hiện đại diễn tả, chúng ta trở nên điều chúng ta ăn! Đây là quan điểm mà Đức Lêô Cả trước đây đã đưa ra: “Mục đích của việc chia sẻ Mình và Máu Chúa Kitô chẳng có gì hơn là chúng ta biến đổi thành điều chúng ta đón nhận, và luôn mặc lấy, trong tinh thần và thân xác, Đấng mà nơi Người chúng ta đã chết, đã được mai táng và đã sống lại.”
Tóm lại, chúng ta đã nhận thấy Thánh lễ là hy lễ, là sự hiện diện thực sự, và là sự hiệp thông linh thánh. Với nền tảng căn bản này, bây giờ chúng ta chuẩn bị bước vào các phần của Thánh lễ, dựa vào Kinh Thánh.
Nguồn: thinhviendaminh.net

Share:
Continue Reading →

Suy niệm thứ Năm Tuần Thánh - Thân phận linh mục trong thế gian



Linh mục là người thế nào đối với thế gian? Có phải một người xa lạ, sống giữa thế gian, nhưng không có những lo âu, thắc mắc của thế gian, mà chỉ lo đến đời sau không? Có phải một người như những người khác, không hơn không kém chăng? Thiết tưởng được hiểu biết thân phận của linh mục trong thế gian, cần phải nghĩ đến linh mục có mặt ở thế gian để làm gì?
I. Sống giữa thế gian
Linh mục có mặt ở thế gian để cho người ta nhìn thấy rằng: tuy ngài cũng là một người như ai khác, nhưng ngài có một sứ mạng riêng. Sắc lệnh Công đồng rất rõ ràng ở điểm này: “Vì ơn thiên triệu và vì chức thánh, các thầy tư tế của Tân Ước có thể nói là đã được chọn lọc giữa dân Thiên Chúa; không phải để tách biệt khỏi dân này, hay khỏi bất cứ một người nào; nhưng để được hoàn toàn hiến thân cho công cuộc, mà Chúa đã gọi các ngài làm. Các ngài không có thể là người thừa hành của Chúa Kitô, nếu các ngài không là chứng nhân và là người ban phát một sự sống, khác với sự sống đời này; các ngài cũng không có thể phụng sự nhân loại, nếu các ngài xa lạ với đời sống và điều kiện sinh hoạt của họ”.
Chúa Kitô đã làm gương một đời sống hoà mình với nhân loại, mà vẫn khác nhân loại. Người là Con Một Thiên Chúa, nhưng Người cũng là con người hoàn hảo, Người đã sống giữa chúng ta và Người đã muốn nên giống chúng ta trong mọi sự, trừ sự tội (Dt 2,17; 4,15). Các tông đồ cũng đã sống theo gương mẫu của Chúa. Thánh Phaolô cho biết: Ngài “đã được dành riêng để rao giảng Phúc Âm của Chúa” (Rm 1,1), nhưng ngài cũng tuyên bố là ngài phải thích ứng với mọi người để cứu vớt mọi người (1 Cr 9,19-23). Vì quan niệm như vậy, nên thánh nhân đã định nghĩa chức linh mục như sau: “Được lựa chọn giữa loài người và được cắt đặt vì ích lợi của loài người, trong mối liên lạc của họ đối với Thiên Chúa, để dâng của lễ và của hiến tế cho tội nhân” (1 Cr 15,24).
II. Nhưng sống khác thế gian
Đòi hỏi trên đối với linh mục chẳng có gì là lạ lùng, người tín hữu cũng đã sống giữa thế gian, mà không thuộc về thế gian. Họ đã phải là chứng nhân cho thế gian về đức tin của họ. Vì chức thánh và vì sứ mạng của mình, linh mục còn có những đòi hỏi khác thêm vào đó nữa. Những đòi hỏi ấy chính là điều phân tách linh mục với người khác, ví dụ như sống độc thân, sống khó nghèo, hình thức vâng lời của kẻ thừa hành.
Ngày nay có người nghĩ rằng: phải xoá bỏ các ngăn cách ấy để linh mục được gần gũi và hiểu biết người ta hơn. Do đó, có người chủ trương để cho linh mục lập gia đình, để hiểu biết gia đình hơn; có người chủ trương linh mục phải có một nghề nghiệp, để có những kinh nghiệm của giới nghề nghiệp và được tự do trong vấn đề tài chánh vv... Nhưng nghĩ như vậy là quên lý do hiện diện của mình trong thế gian. Ta chỉ hiện diện trước mặt kẻ khác, khi họ nhận biết ta cũng là người như họ; nhưng điều kiện này vẫn chưa đủ, họ còn phải nhận biết ta có những đặc tính của ta nữa. Nếu ta giống họ mọi đàng, không còn có cái gì cho họ chú ý, thì không thể nói rằng: ta hiện diện với họ được.
Như vậy, những bó buộc của bậc linh mục như độc thân, khó nghèo vâng lời vv... không những không làm hại, mà còn làm nổi bật sự hiện diện của linh mục trong thế gian. Thực vậy, những bó buộc ấy chứng tỏ: từ khi Ngôi Lời nhập thể nhân tính của ta đã được thanh lọc và thánh hoá dần dần, cho đến ngày được hiển vinh. Thanh lọc và thánh hoá chỉ có thể thực hiện qua đau khổ và thập giá. Do đó, không có những bó buộc trên, sự hiện diện của linh mục trong thế gian sẽ hết ý nghĩa. Lúc ấy, linh mục sẽ như muối đã lạt, như đèn đã tắt; và như vậy, ta sẽ đáng nghe lời nguyền rủa của Chúa (Mt 5,13).
III. Thích nghi với thế gian
Nếu linh mục không được sống theo gương mẫu của thế gian và phải nhớ những bó buộc tôn giáo của mình, linh mục cũng không được quên rằng: mình chỉ hiện diện hữu hiệu giữa nhân loại, khi mình chứng tỏ mình cũng là người đầy đủ như họ. Về điểm này, sắc lệnh Công đồng viết: “Sứ mạng các ngài buộc các ngài sống trong thế gian, giữa người ta, và như những mục tử tốt, các ngài phải biết con chiên của mình...”.
Sống trong thế gian, sống giữa người ta, là sống thích nghi với thời đại và con người của thời đại, nói khác đi, là có những tư tưởng, cảm xúc, thói tục, ăn mặc, tiếng nói mà thời đại này hiểu được. Linh mục sẽ không có thể được người thời đại chấp nhận, nếu có những tư tưởng lạc hậu về khoa học, tự do, bình đẳng, những thói tục xa xưa ngày nay không ai theo nữa, những cách ăn nói “kiểu nhà thầy” người đời này cho là kỳ cục, hoặc không hiểu...
Trong một xã hội đang biến đổi như xã hội Việt Nam, chúng ta càng phải thận trọng, theo dõi thời đại, để khỏi trở nên lỗi thời, lố bịch, đối với người ta. Phải thú nhận rằng: Những người trẻ, nhất là những người có học, nhiều lúc đứng trước linh mục, thấy rằng: các ngài xa họ quá, không thể hiểu họ được. Thực ra, ngày nay không riêng gì linh mục, mà bậc phụ huynh ngoài đời cũng ca thán rằng: mình không hiểu nổi con em mình nữa. chúng sinh ra trong thời buổi tao loạn, chúng lớn lên nơi đất khách quê người, chúng hấp thụ một nền văn minh có tính cách quốc tế hơn...
IV. Biết đối thoại với thế gian
Lẽ tất nhiên, cách cảm nghĩ suy tư của chúng khác ta, và cách suy tư cảm nghĩ của con cháu chúng còn khác ta hơn nữa. Nhưng chúng khác ta không nghĩa là chúng đã đi sai, chúng đã ra xấu. Mỗi thời đại có những cái dở và những cái hay của nó. Bổn phận của người mục tử là nhận biết giá trị đích thực của mỗi thế hệ, để mà dẫn dắt họ. Thái độ mà Công đồng Vaticanô II khuyên phải có là thích nghi và đối thoại, nghĩa là quên mình đi, đặt mình vào hoàn cảnh của người ta, để mà tìm hiểu người ta. Một thái độ khác mà Công đồng đã nhắc đến trong hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế gian hiện đại, là lạc quan. Chúa Kitô đã cứu chuộc mọi thời đại, nên mọi thời đại đều có mọi ưu điểm cho công cuộc cứu chuộc và những khuyết điểm. Bổn phận chúng ta là phải nhìn biết các “dấu chỉ của thời đại”, nghĩa là những sự kiện mới xảy ra để mà tìm hiểu con đường nhân loại tiến đến sự giải thoát phải đi qua đâu? Không biết những “dấu hiệu của thời đại”, chúng ta không dẫn dắt được ai, vì chúng ta cũng không biết đường mà đi.
Để có tinh thần cởi mở như trên, cần phải theo dõi các tiến triển về văn hoá, xã hội, nhưng cũng cần phải có những đức tính cần thiết trong việc giao tiếp với kẻ khác như sự nhân từ, lòng thành thật, tính tế nhị, đời sống luân lý quang minh, sự công bình. Tóm lại, những điều mà thánh Phaolô đã căn dặn: “Những gì thật, đáng tôn trọng, những gì công bình, trong sạch, đáng mến yêu, những gì nhân đức và đáng ca tụng, thì hãy coi đó là đối tượng cho tư tưởng của anh em” (Pl 4,8).
Như trên, thân phận của linh mục là sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Vị trí này đòi chúng ta phải sáng suốt và tỉnh thức trong mọi giây phút đời ta, vì vị trí ấy như vị trí kẻ đi trên dây, không khéo một chút là ta mất quân bình ngay. Sống như người đời, ta sẽ không còn là những người dành riêng của Chúa nữa. Nhưng sống tách biệt khỏi đời, ta sẽ không được người đời chấp nhận nữa và bằng chứng của ta sẽ vô hiệu quả.
Tự vấn lương tâm
Tôi có bao giờ suy nghĩ về vị trí của linh mục trong thế gian không? Tôi có nghĩ rằng: hiểu biết vị trí ấy rất cần không? Không biết vị trí ấy tôi lấy tiêu chuẩn nào để có thái độ và để hành động?
Tôi khác biệt giáo dân ở những sự gì? Có phải ở một địa vị xã hội trưởng giả không? Có phải vì bộ áo dòng không? Có phải ở đời sống nhàn hạ, không phải chân lấm tay bùn không? Có phải ở trình độ trí thức thực sự hay ảo tưởng của tôi không? Nếu đó là những khác biệt của tôi với giáo dân, tôi có cho đó là những khác biệt thiết yếu của chức linh mục không? Tôi có cố bám lấy những cái đó, và nghĩ rằng: mất nó thì linh mục sẽ không còn là gì nữa không? Thực sự, tôi phải khác với người khác ở đâu? Khi chịu chức thánh, tôi đã nhận được gì và đã có những bổn phận nào? Tôi có thấy rằng: ngày tôi chịu chức thánh, đời tôi đã những bổn phận rõ ràng là giảng lời Chúa, làm các bí tích và dẫn dắt các giáo hữu trong đức tin không? Tôi có đem hết khả năng để làm trọn nhiệm vụ trên không? Tôi có quý đời sống độc thân, khó nghèo và vâng lời không?
Tôi có vì lý do đã được dành riêng vào công việc thánh mà sống biệt lập với người khác không? Tôi có tìm hiểu nhu cầu vật chất, hoài bão tinh thần của những người thế gian không? Hay tôi sống giữa họ mà vẫn xa lạ với họ, không hiểu gì đến những lo âu, đau đớn của họ. Thế giới chuyển mình, đất nước thay đổi, tôi có theo dõi một cách sáng suốt không? Nếu tôi không hiểu tâm trạng người ta, làm thế nào tôi sẽ chuyện trò với họ được, làm thế nào họ sẽ tin cậy ở tôi được, làm thế nào tôi sẽ giảng lời Chúa cho họ nghe theo và hướng dẫn họ được?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nhập thể để sống giữa nhân loại, hầu cứu vớt nhân loại, xin Chúa dạy con biết tiếp tục sứ mạng đó cách chu toàn.
Lm Jos Thân Văn Tường

Share:
Continue Reading →

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

Suy niệm thứ Năm Tuần Thánh - Những người bạn của Chúa Giê-su



(Ga 15, 10-17)
Khi nghe Ma-ri-a Mac-đa-la báo tin xác Chúa không còn trong mộ, hai ông Phê-rô và Gio-an đã chạy nhanh ra mộ (Ga 20,1-4) .Ma-ri-a khóc tìm Chúa bên mộ (Ga20,11). Các môn đệ buồn bã khi Chúa chết… Những điều đó cho thấy rằng các Tông dồ và các môn đệ của Chúa Giê-su rất thương mến Chúa. Họ thật là những người bạn của Chúa như lời Chúa nói: “Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thực thi những điều Thấy truyền dạy” (Ga 15,10-17)
Hôm nay, chúng ta sẽ chiêm ngắm một số người bạn của Chúa để xem họ đã theo Chúa thế nào, yêu Chúa ra sao…để đến lượt chúng ta, chúng ta cũng trở nên những người bạn của Chúa.

1 Trên từng cây số
Trong bữa Tiệc ly, khi nói với các Tông đồ rằng : Ngài coi họ là bạn, Chúa Giê-su đã đưa mắt nhìn từng người. Mỗi người đã đến với Ngài trong một hoàn cảnh riêng, với một ước mơ riêng. Đây là An-rê, người đã từng là môn đệ của Gio-an Tẩy giả (Ga 1,40). Chính anh đã dẫn Phê-rô đến với Ngài (Ga 1,41-42). Kia là Mat-thêu, còn có tên là Lê-vi, mà Ngài gọi trong lúc anh đang thu thuế tại Ca-phac-na-um (Mt 9,9 ; Mc 2,14). Nọ là Gia-cô-bê và Gio-an đang ngồi bên cạnh Ngài. Cả hai luôn ước mơ được ngồi một người bên tả, một người bên hữu Ngài (Mc 10,37)…Họ đã theo Ngài trên khắp nẻo đường đất nước. Họ đã ở bên Ngài trong những ngày vui với hàng ngàn người kéo đến nghe giảng và được ăn bánh no nê. Rồi những ngày buồn, khi nghe Ngài tuyên bố : “Phải ăn thịt và uống máu Ngài mới được sống”; ngay cả đến một số đã từng là môn đệ cũng bỏ đi, thì những khuôn mặt này vẫn ở lại với Ngài. Chúa biết rằng khi Ngài chịu khổ nạn, tình bạn của họ sẽ bị lung lay, nhưng Ngài cũng thấy trước rằng khi Ngài từ cõi chết phục sinh, họ sẽ quay về sum họp.
Cái nhìn của Chúa dừng lại lâu hơn trên Phê-rô, lịch sử tình bạn của ông đối với Chúa đã đi từ những tâm tình thật sôi nổi : “Lạy Thầy, bỏ Thầy, chúng con biết theo ai?”(Ga 6,68); “Dù phải chịu ngục tù và tử hình với Thầy, con cũng sẵn sàng” (Lc 22,33); đến chỗ yếu đuối chối Thầy, rồi khóc lóc thảm thiết vì sự chối bỏ ấy. Dù nhiều khi Phê-rô có vẻ bốc đồng hoặc nhát gan, nhưng ông là con người rất tình cảm và chân thành, Chúa Giê-su đã không ngần ngại chọn Phê-rô làm người đứng đầu, không chỉ Nhóm Mười Hai, mà còn toàn thể Hội Thánh của Ngài.(Mt 16,18-19)
Cái nhìn của Chúa Giê-su cũng đọng lại trên Gio-an, người môn đệ yêu dấu, người Ngài có thể chia sẻ những bí mật (Ga 13,21-26). Đó là người Ngài sẽ trao phó người Mẹ yêu dấu cho trong giờ phút hấp hối trên thập giá (Ga 19, 26-27). Đó cũng là người có một cái nhìn nhậy bén, có thể nhìn ra được Ngài trước mọi anh em khác (Ga 20,8; 21,7).
Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giê-su đã âu yếm nhìn từng khuôn mặt những người bạn thân thiết nhất của Ngài, họ đã từng gắn bó với Ngài trên từng cây số khắp mọi nẻo đường xứ Pa-lét-tin, và Ngài đã từng tâm sự với họ những lời tha thiết nhất : “Anh em là ban hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả nhũ­ng gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,14-15)
Bạn của Chúa Giê-su là những người sống gắn bó với Chúa, cùng chia vui sẻ buồn trên mọi nẻo đường của cuộc sống, và là những người thực hiện “Lệnh truyền yêu thương” của Chúa.

2 Tế nhị làm đẹp lòng
Nói đến những người bạn của Chúa, không thể nào không nhắc tới ngôi nhà bé nhỏ ở Bê-ta-ni-a, với ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô. Mỗi lần lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su thường dừng chân trong mái nhà này (Mc 11,11; Mt 21,17) vì ở đây có những tấm lòng luôn tế nhị cảm thông  với Ngài. Ngay cả trong tình cảnh nguy kịch, khi giới lãnh đạo Do Thái đã quyết định giết Ngài, gia đình này vẫn không ngần ngại tiếp đón Chúa. Lúc ấy, ngoài Giu-đa ra, các Tông đồ khác không biết Chúa đang gặp nguy hiểm đến mức nào. Thế nhưng, tâm hồn phụ nữ của Mác-ta và Ma-ri-a lại trực giác được tất cả. Hai chị em đã tổ chức bữa ăn chiêu  đãi để an ủi Chúa. Đặc biệt, Ma-ri-a đã bày tỏ lòng mến yêu bằng một hành động khiến Chúa rất cảm kích : Chị đập vỡ cả một bình dầu thơm thượng hạng để xức lên chân Chúa (Ga 12,1-8)
Ngoài những người bạn ở Bê-ta-ni-a còn có cô Ma-ri-a quê ở Mác-đa-la và những chị em khác (Lc 8,1-3). Trong thời gian Chúa đi rao giảng, họ tháp tùng Chúa và các môn đệ, chăm sóc các nhu cầu hằng ngày của các Ngài : “Các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ”. Những tâm hồn phụ nữ bạn Chúa bao giờ cũng dành cho Chúa những quan tâm tế nhị. Tình bạn ân cần của họ còn thể hiện qua sự hiện diện của họ với Chúa nơi chân Thập giá (Ga 19,25; Mt 27,22-56; Mc 15,40-41; Lc13,49) cũng như qua việc chuẩn bị thuốc thơm để đi ướp xác Chúa vào buổi sáng Chúa nhật Phục sinh (Mc 16,1-2; Lc 24,1)
Bạn của Chúa Giê-su còn là những người luôn mang tấm lòng tế nhị, cảm thông, luôn có sáng kiến để bộc lộ tình cảm dành cho Chúa, và cùng hiện diện với Chúa dưới chân Thập giá.

3 Một tình yêu thinh lặng
Sau khi Chúa chết, chúng ta có thêm một khám phá bất ngờ về những người bạn của Chúa. Đó là Ni-cô-đê-mô và Giu-se A-ri-ma-thê (Mt 27,57-60; Mc 15,42-46; Lc 23,50-54; Ga 19,38-40). Đây là những người bạn âm thầm của Chúa.
Trong những ngày tháng Chúa bị người ta dòm ngó, họ chỉ dám đến gặp Ngài ban đêm. Ngờ đâu đến lúc Ngài bị bắt và bị giết chết, trong khi các môn đệ lẩn trốn hầu hết, thì họ lại công khai đứng ra lo lễ an táng cho Ngài. Họ làm tất cả những gì họ có thể làm được cho Ngài. Lòng dũng cảm của họ lúc này soi sáng cho tình yêu của họ dành cho Chúa. Một tình yêu thinh lặng chỉ có riêng Chúa và lòng họ biết.
Chiều sâu của tình yêu thường không nằm nơi những sự việc lẫy lừng, nhưng nơi những hy sinh thầm lặng, tựa như phần bị che khuất của tảng băng sơn. Những hy sinh cha mẹ dành cho ta, có khi nào ta nghe cha mẹ kể ? Dù ít khi ta biết trân trọng tình yêu thinh lặng, nhưng Thiên Chúa bao giờ cũng đánh giá cao sự hy sinh thầm lặng của chúng ta, bởi vì chính nơi Thập giá và nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Giê-su đang yêu chúng ta bằng một tình yêu vĩ đại như thế.
Hôm nay đây, nếu đến viếng Nhà Tạm, chúng ta sẽ khám phá ra rằng Chúa Giê-su vẫn yêu thương mỗi người chúng ta bằng một tình yêu thầm lặng. Và nơi Nhà Tạm, Ngài vẫn đang mờigọi chúng ta hiến dâng Ngài một tình yêu thinh lặng.
Những người bạn của Chúa Giê-su  còn là những người yêu Chúa trong âm thầm, lặng lẽ, nhưng khi cần họ đã làm cho Chúa tất cả những gì họ có thể làm được.
Tóm lại: Mỗi một người bạn của Chúa đều mang một nét riêng, nhưng họ có chung một điểm, đó là lòng yêu mến đối với Thầy. Mỗi người một tính, một nết, nhưng tất cả đã quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa.

Cầu nguyện.
Lạy Chúa Giê-su, vì con bé nhỏ, nên xin yêu Ngài bằng khả năng bé nhỏ của con.
Cho con biết yêu những công việc bé nhỏ mỗi ngày, những công việc âm thầm, những bổn phận con làm vì yêu mến.
Cho con biết yêu những hy sinh bé nhỏ mỗi ngày, vui lòng đón nhận những thánh giá tuy nhỏ nhưng làm tim con đau đớn.
Cho con biết yêu tinh thần bé nhỏ của trẻ thơ, đơn sơ thú nhận mình yếu đuối và bất lực, sung sướng nương tựa vào duy một mình Chúa.
Hơn nữa, xin cho con can đảm, dám chọn những gì giúp con trở nên bé nhỏ hơn, nhờ đó con vui tươi phục vụ mọi người, và hạnh phúc khi thấy Chúa lớn lên trong con.
Mỗi lần bị cám dỗ tự cao, xin  cho con biết ngắm nhìn con đường Chúa đã đi. Con đường bé nhỏ và khiêm hạ.
Ước gì con được làm bạn của Chúa trên đường từ  Bê-lem đến Núi Sọ, và được ở bên Chúa trong Nước Trời. Amen. (Rabbouni)
Nguồn: simonhoadalat.com

Share:
Continue Reading →

Phải rửa chân cho nhau – 29/03, Thứ Năm Tuần Thánh.


LỜI CHÚA:  Ga 13, 1-15
1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.
2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su.3 Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa,4 nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng.5 Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao? “7 Đức Giê-su trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”8 Ông Phê-rô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu! ” Đức Giê-su đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”9 Ông Si-môn Phê-rô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.”10 Đức Giê-su bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu! “11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch.”
12 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?13 Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.
Holy Gospel of Jesus Christ according to Saint John 13:1-15.
Before the feast of Passover, Jesus knew that his hour had come to pass from this world to the Father. He loved his own in the world and he loved them to the end.
The devil had already induced Judas, son of Simon the Iscariot, to hand him over. So, during supper, fully aware that the Father had put everything into his power and that he had come from God and was returning to God, he rose from supper and took off his outer garments. He took a towel and tied it around his waist. Then he poured water into a basin and began to wash the disciples' feet and dry them with the towel around his waist.
He came to Simon Peter, who said to him, "Master, are you going to wash my feet?" Jesus answered and said to him, "What I am doing, you do not understand now, but you will understand later." Peter said to him, "You will never wash my feet." Jesus answered him, "Unless I wash you, you will have no inheritance with me." Simon Peter said to him, "Master, then not only my feet, but my hands and head as well." Jesus said to him, "Whoever has bathed has no need except to have his feet washed, for he is clean all over; so you are clean, but not all." For he knew who would betray him; for this reason, he said, "Not all of you are clean."
So when he had washed their feet (and) put his garments back on and reclined at table again, he said to them, "Do you realize what I have done for you? You call me 'teacher' and 'master,' and rightly so, for indeed I am. If I, therefore, the master and teacher, have washed your feet, you ought to wash one another's feet. I have given you a model to follow, so that as I have done for you, you should also do.
Copyright © Confraternity of Christian Doctrine, USCCB
Jesus, the consecrated bread
Among all the memorable events of Christ's life, the nost worthy of remembrance is that last banquet, the most sacred supper. Here not only the paschal lamb was presented to be eaten but also the immaculate Lamb, who takes away the sins of the world. Under the appearance of bread “having all delight and the pleasantness of every taste” (Wis 16:20), he was given as food.
In this banquet the marvelous sweetness of Christ's goodness shone forth when he dined at the same table and on the same plates with those poor disciples and the traitor Judas.
The marvelous example of his humility shone forth when, girt with a towel, the King of Glory diligently washed the feet of the fishermen and even of his betrayer.
The marvelous richness of his generosity was manifest when he gave to those first priests, and as a consequence to the whole Church and the world, his most sacred body and his true blood as food and drink so that what was soon to be a sacrifice pleasing to God and the priceless price of our redemption would be our viaticum and sustenance.
Finally the marvelous outpouring of his love shone forth when, “loving his own to the end” (Jn 13:1), he strengthened them in goodness with a gentle exhortation, especially forewarning Peter to be firm in faith and offering to John his breast as a pleasant and sacred place of rest.
O how marvelous are all these things, how full of sweetness, but only for that soul who, having been called to so distinguished a banquet, runs with all the ardor of his spirit so that he may cry out with the Prophet: “As the stag longs for the springs of water so my soul longs for you, O God!” (Ps 41[42]:2).
Daily Gospel.

SUY NIỆM
Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái. Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi. Có thể nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến cũng đã để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu: Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài đã lập bí tích Thánh Thể. Thứ Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ đến di chúc ấy. Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài.
Có nhiều điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể. Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết. Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua. Vào lúc cuối đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ, Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình. Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá. Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ. Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ, thì bây giờ Thầy làm cho trò. Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất được diễn tả qua việc rửa chân. Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy. Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ ra và trao đi. Rượu trở nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới.
Trong cả hai biến cố Rửa chân và Bí tích Thánh Thể, Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực. Tham dự vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân, hay tham dự bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài. Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu. Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó. “Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19). Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu.
Muốn ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu, cần giữ lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10). Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất. Yêu là cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu. Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu.

LỜI NGUYỆN
Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn. Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn, khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ. Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người. Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh.
Lạy Thầy Giêsu, thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy. Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi. Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình. Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải. Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử. Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ. Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động. Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo, để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc. Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.






Share:
Continue Reading →

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

Chẳng lẽ con sao? – 28/03, Thứ Tư Tuần Thánh.



Lời Chúa: Mt 26,14-25
14 Bấy giờ, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế15 mà nói: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su. 

17 Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su: “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? “18 Người bảo: “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: “Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.”19 Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua. 

20 Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ.21 Đang bữa ăn, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”22 Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người: “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao? “23 Người đáp: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn! “25 Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi: “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao? ” Người trả lời: “Chính anh nói đó! “
Holy Gospel of Jesus Christ according to Saint Matthew 26:14-25.
One of the Twelve, who was called Judas Iscariot, went to the chief priests and said, "What are you willing to give me if I hand him over to you?" They paid him thirty pieces of silver, and from that time on he looked for an opportunity to hand him over.
On the first day of the Feast of Unleavened Bread, the disciples approached Jesus and said, "Where do you want us to prepare for you to eat the Passover?" He said, "Go into the city to a certain man and tell him, 'The teacher says, "My appointed time draws near; in your house I shall celebrate the Passover with my disciples." The disciples then did as Jesus had ordered, and prepared the Passover.
When it was evening, he reclined at table with the Twelve. And while they were eating, he said, "Amen, I say to you, one of you will betray me." Deeply distressed at this, they began to say to him one after another, "Surely it is not I, Lord?" He said in reply, "He who has dipped his hand into the dish with me is the one who will betray me. The Son of Man indeed goes, as it is written of him, but woe to that man by whom the Son of Man is betrayed. It would be better for that man if he had never been born." Then Judas, his betrayer, said in reply, "Surely it is not I, Rabbi?" He answered, "You have said so."
Copyright © Confraternity of Christian Doctrine, USCCB.
"One of you will betray me"
Why does Judas betray Jesus? The question raises several theories. Some refer to the fact of his greed for money; others hold to an explanation of a messianic order: Judas would have been disappointed at seeing that Jesus did not fit into his programme for the political-militaristic liberation of his own nation. In fact, the Gospel texts insist on another aspect: John expressly says that "the devil had already put it into the heart of Judas Iscariot, Simon's son, to betray him" (Jn 13:2). Analogously, Luke writes: "Then Satan entered into Judas called Iscariot, who was of the number of the twelve" (Lk 22:3). In this way, one moves beyond historical motivations and explanations based on the personal responsibility of Judas, who shamefully ceded to a temptation of the Evil One. The betrayal of Judas remains, in any case, a mystery. Jesus treated him as a friend (cf. Mt 26:50); however, in his invitations to follow him along the way of the beatitudes, he does not force his will or protect it from the temptations of Satan, respecting human freedom...
Let us remember that Peter also wanted to oppose him and what awaited him at Jerusalem, but he received a very strong reproof: "You are not on the side of God, but of men" (Mk 8:33)! After his fall Peter repented and found pardon and grace. Judas also repented, but his repentance degenerated into desperation and thus became self-destructive… Let us remember two things. The first: Jesus respects our freedom. The second: Jesus awaits our openness to repentance and conversion; he is rich in mercy and forgiveness.
Besides, when we think of the negative role Judas played we must consider it according to the lofty ways in which God leads events. His betrayal led to the death of Jesus, who transformed this tremendous torment into a space of salvific love by consigning himself to the Father (cf. Gal 2:20; Eph 5:2, 25). The word "to betray" is the version of a Greek word that means "to consign". Sometimes the subject is even God in person: it was he who for love "consigned" Jesus for all of us (Rm 8:32). In his mysterious salvific plan, God assumes Judas' inexcusable gesture as the occasion for the total gift of the Son for the redemption of the world.

Daily Gospel.

SUY NIỆM:
 Các thượng tế muốn giết Đức Giêsu, nhưng không tìm được cơ hội. Nay cơ hội đã đến với sự tiếp tay của chính người môn đệ Đức Giêsu. Anh Giuđa đã đến gặp các thượng tế và đề nghị nộp Ngài cho họ. Chúng ta mãi mãi không biết hết và biết rõ những động cơ nào đã thúc đẩy Giuđa làm chuyện kinh khủng ấy.
Giuđa, người được gọi, được chọn, được tuyển lựa, sau một đêm thức trắng cầu nguyện của Thầy Giêsu (Lc 6, 12). Và anh đã đáp lại, đã bỏ gia đình, nghề nghiệp, để đi theo. Giuđa đã rong ruổi theo Thầy ngay từ đầu, chia sẻ đói no, thành công thất bại… Không yêu thì làm sao đi theo được lâu như thế. Giuđa, người được tin cậy và giao giữ quỹ cho cả nhóm (Ga 12, 6). Vì là người trong nhóm Mười Hai, thuộc nhóm môn đệ thân cận, Giuđa đã được nghe hầu hết các bài giảng hay nhất, được chứng kiến các phép lạ lớn lao nhất của Thầy Giêsu. Giữa anh và Thầy Giêsu hẳn đã có một sự thân thiết nào đó.
Điều gì đã diễn ra nơi trái tim của Giuđa ? Điều gì đã khiến tất cả phút chốc bị đổ vỡ không sao hàn gắn ? Chắc không phải chỉ vì ba mươi đồng bạc, một số tiền không lớn. Phải chăng vì Giuđa thất vọng và nóng ruột khi thấy Thầy Giêsu quá hiền từ, cả trong lối sống lẫn lời giảng, chẳng có vẻ gì là một Đấng Mêsia sắp giải phóng dân tộc khỏi quân Rôma ? Phải chăng khi Giuđa nộp Thầy cho các thượng tế, anh định cài Thầy vào thế phải hành động quyết liệt hơn, phải tự giải thoát mình ? Dù gì đi nữa thì chuyện Giuđa làm là không thể biện minh được. Anh đã can dự vào cái chết của Thầy Giêsu. Không thể phong tặng anh hùng cho Giuđa vì bảo rằng nhờ anh mà chúng ta có được ơn cứu độ. Giuđa đã phạm tội nghiêm trọng đến nỗi Thầy Giêsu phải đau đớn nói: “khốn cho kẻ nào nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (c.24). Dầu vậy tội của Giuđa đã được Thiên Chúa dùng cho chương trình cứu độ. Thiên Chúa là Đấng có thể biến điều dữ thành điều lành.
“Kẻ đã chấm chung một đĩa với Thầy là kẻ sẽ nộp Thầy” (c. 23). Kẻ đồng bàn thân thiết với Thầy lại là người phản bội. Ngay cả những môn đệ khác cũng hỏi Thầy Giêsu : “Có phải con không?” Có phải con là người đang phản bội Thầy không ? Lúc nào chúng ta cũng có thể hỏi Chúa Giêsu cùng câu hỏi đó. Dù mỗi ngày chúng ta cùng chia sẻ một bàn tiệc với Chúa trong Thánh Lễ, chúng ta vẫn có thể rơi vào tội của Giuđa.

LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa. Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, Chúa ngàn lần quảng đại hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.
Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.
Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.





Share:
Continue Reading →